Kinh Vinh Danh

(Để Nhớ Đến Thầy tiếp theo)

10- KINH VINH DANH

I. VĂN KIỆN  

Kinh Vinh danh là một Thánh thi rất cổ kính, mà Hội Thánh, được đoàn tụ trong Chúa Thánh Thần, dùng để tôn vinh Chúa Cha và cầu khẩn Chiên Con. Không được thay đổi bản văn của kinh này bằng một bản văn khác. Vị tư tế hay, tùy nghi, một ca viên hay ca đoàn xướng lên, rồi mọi người cùng hát chung, hay luân phiên giữa giáo dân và ca đoàn, hay chỉ ca đoàn. Nếu không hát thì phải đọc, hoặc mọi người đọc chung, hoặc chia hai bè đối đáp. Kinh này được hát hay đọc trong các Chúa nhật ngoài mùa Vọng và mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các dịp lễ khá long trọng (QCSL 53).

II. LỊCH SỬ 

Kinh Vinh danh - Gloria - là một trong những bài hát rất cổ xưa (antiquissimus) của Giáo Hội thời kỳ đầu cùng với các kinh Pros hilarion (Ôi nguồn sáng huy hoàng) và Te Deum (Chúng con chúc tụng Chúa).[1]

Gloria được tìm thấy trước tiên trong nguồn phụng vụ Hy Lạp và Syria của nghi lễ Đông phương, nó không được sử dụng trong Thánh lễ mà là kinh chúc tụng ngợi khen được sử dụng như một bài Thánh ca Rạng đông Phục sinh và dần dần thuộc thành phần kết thúc của Kinh Sáng.[2] Bên Tây phương cũng vậy, Gloria hồi đầu không nằm trong Thánh lễ.[3]

Bài ca này xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ thứ IV, nhưng chỉ được đưa vào Thánh lễ Roma vào đầu thế kỷ thứ V dưới thời của Đức Lêô Cả (400-461), lúc đó người ta chỉ hát Gloria trong Thánh lễ nửa đêm Giáng sinh vì là bài ca các thiên thần hát tại Bêlem trong đêm Chúa xuống thế làm người (Lc 2,13-14).[4]

Sau đó, đến đời Đức Giáo hoàng Synmaque (498-514), kế vị Đức Gelasio, Gloria mới được quyết định cho hát giữa phần kinh Nhập lễ (Introit) và kinh Kyrie trong tất cả các Thánh lễ Chúa nhật và lễ kính các thánh Tử đạo khi do Giám mục cử hành.

Sau cùng Gloria được dành cho cả lễ các thánh Giáo hoàng, rồi đến các thánh Giám mục.[5] Căn cứ vào cuốn Sacramentarium Gregorianum, đặc quyền này của Đức Giám mục tồn tại trong một thời gian khá lâu bởi vì cho đến thế kỷ VII, một linh mục thường chỉ được phép hát kinh Vinh danh mỗi năm một lần vào lễ Phục sinh (đêm Canh thức Vượt qua) và trong dịp thụ phong linh mục khi ngài được rước vào nhà thờ họ để cử hành Thánh lễ mở tay. Dần dần về sau, khoảng cuối thế kỷ XI, kinh Vinh danh mới trở nên phổ biến và mọi linh mục cũng được quyền bắt hát như Đức Giám mục trong tất cả những ngày lễ Chúa nhật và lễ mừng long trọng trừ ra trong mùa Vọng và mùa Chay.

Bài Gloria vốn là một trong số vài bài nằm trong cuốn Ordo Missae La-tinh được phổ biến hết sức rộng rãi từ thời Carolingian (751 - ...) ngay cả bên ngoài Thánh lễ. Bằng chứng là khi hoàng đế Charlemange dẫn Đức Lêô III vào trong tòa nhà nghị viện của đế quốc tại Paderborn (năm 799), mọi người đã hát bài Gloria.[6]

Tới cuối thế kỷ thứ VIII, kể như Nghi thức Mở đầu của Thánh lễ gồm: Ca Nhập lễ, làm nổi bật tinh thần ngày lễ; Kinh Thương xót (Kyrie); Kinh Vinh danh (Gloria); và Lời nguyện Mở đầu. Theo Jungmann, đến thế kỷ IX, luật chữ đỏ đòi buộc vị Giám mục chủ tế phải đối diện với dân chúng trong khi cất tiếng hát Gloria, nghĩa là từ khởi ban đầu Gloria hẳn là được hát bởi toàn thể cộng đồng.[7] Giống như Kyrie, từ lúc khởi đầu, Gloria là một bài hát của toàn thể cộng đoàn. Nhưng sau đó, Gloria được người ta thêu dệt thêm bằng những giai địệu âm nhạc hoa mỹ và phức tạp khiến cho nó trở thành bài hát của riêng ca đoàn. 

Cấu trúc mở đầu Thánh lễ (Ca Nhập lễ; kinh Thương xót (Kyrie); kinh Vinh danh (Gloria); và Lời Tổng nguyện) đã được Sách lễ Roma của Đức Phaolô VI lấy lại từ phụng vụ thế kỷ VIII, tuy nhiên thêm vào đó Nghi thức Sám hối mặc dầu nghi thức này mãi thế kỷ IX mới có.

Tập tục như chúng ta thấy hiện nay, coi như đã thành hình từ thế kỷ XI, nghĩa là được hát vào tất cả những Chúa nhật và những ngày lễ kính, lễ trọng, ngoại trừ những ngày thống hối trong toàn Giáo Hội Tây phương.[8] 

III. Ý NGHĨA[9] 

Kinh Vinh danh là một thánh thi chúc tụng và khẩn nài hướng lên Chúa Cha và Đức Kitô (QCSL 43). Toàn bản văn chia làm 3 phần: 1] Đoạn mở đầu; 2] Đoạn hướng về Chúa Cha; 3] Đoạn hướng về Đức Kitô. 

            A. Đoạn mở đầu: Lời ca thiên thần trong đêm Giáng sinh

"Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,

và bình an dưới thế cho loài người Chúa thương  (cho người thiện tâm)"

Lời này được tổng hợp từ nhiều bản văn Thánh Kinh, đặc biệt từ lời ca ngợi do các thiên thần hát lên trong đêm Chúa Giáng sinh tại Bêlem (x. Lc 2,13-14). Vì vậy, nó còn có tên gọi là Thánh ca Thiên Thần (x. Ga 1,29; Tv 109, 1; Cv 2,34-36).[10]

Câu "cho người thiện tâm" là dịch sát theo bản La-tinh "homminibus bonae voluntaris" được rút từ bản Vulgata (Lc 2,14) mà bonae voluntaris chỉ được dịch lại từ chữ êuđôkia của nguyên bản Hy Lạp. Trong Thánh Kinh, hai từ  êuđôkiaêuđôkêin nói lên đặc ân hay lòng tốt của Thiên Chúa dành cho kẻ được Ngài tuyển chọn. Cho nên anthropôi êuđôkia dịch là những người được Thiên Chúa yêu thương giáng phúc (loài người Chúa thương) thì thích hợp hơn cho "người thiện tâm". Hơn nữa, bình an chính thức và siêu nhiên không thể do tự thiện tâm con người mà có nhưng phải nhờ tình thương Thiên Chúa ban tặng.[11] 

            B. Đoạn thứ II: Lời tôn vinh Thuên Chúa

Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa (Br 3,6; Tv 145,2),

chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa (Kh 4,11; Rm 11,36; 1Cr 6,20),

chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa (1Bns 16,24; 2Cr 4,15).

Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời (Kh 4,8; Tb 13,7; Dn 4,37),

Là Chúa Cha toàn năng (St 17,1-2; 2Cr 6,18).

diễn tả sự nối kết giữa trời và đất trong những lời ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa qua 5 động từ: ca ngợi; chúc tụng; thờ lạy; tôn vinh; và cảm tạ Chúa  được vang lên như những làn sóng đại dương không ngớt trào dâng.[12] Kiểu tung hô chúc tụng như thế đã tồn tại trong phụng vụ từ rất xa xưa, là một thói tục diễn ra trong buổi phụng tự công cộng dành cho các hoàng đế, nhưng sau đã được tu chỉnh, được "rửa tội" để dùng trong Giáo Hội.[13] Đoạn này cũng nhấn mạnh đến vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ qua ngôn từ Ngài là Thiên Chúa (Deus), là Vua trên trời (Rex caelestis), đặc biệt Ngài là Cha toàn năng (Pater omnipotens), một cụm từ đã có trong kinh Tin kính các thánh Tông đồ, xuất hiện trong các Thánh thi cổ cũng như Thánh thi Te Deum. Vì vậy, loài người phải bày tỏ thái độ "chúc tụng, thờ lạy, tôn vinh và cảm tạ" dành cho Ngài. 

            C. Đoạn thứ III: Lời kêu cầu Đức Giêsu

Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô (Ga 1,14. 18),

Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa

là Con Ðức Chúa Cha (Kh 1,8; Ga 1,29).

Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con (Ga 1,29);

Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn (Ga 14,13).

Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha  (Cl 3,1; Dt 8,1), xin thương xót chúng con.

Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh (Kh 15,4),

chỉ có Chúa là Chúa (Is 37,20), chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao (Tv 83,18),

cùng Ðức Chúa Thánh Thần ( Rm 8,9; 1Pr 3,8) trong vinh quang  Ðức Chúa Cha (Lc 9,26; Ga 1,14; Pl 2,11).

Trước hết, đoạn này quy hướng về Chúa Kitô với những danh hiệu chính của Ngài là: Chủ Tể (Dominus); Thiên Chúa (Deus); Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei); Con Chúa Cha (Filius Patris). Nghĩa là Chúa Kitô vừa là Thiên Chúa uy quyền, đồng bản thể với Chúa Cha, vừa là Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Chính Đức Giêsu, Con thiên Chúa (Filius Patris) mới là phản ánh trung thực vinh quang của Thiên Chúa Cha tại trần gian (Dt 1,3).

Bài ca sau đó chuyển sang ca tụng Chúa Giêsu nhưng dưới dạng khẩn cầu với ba lời van nài như trong các kinh cầu, trong đó, Hội Thánh không những nhắc nhớ công trình cứu độ Chúa Kitô đã chết trên Thập giá để xóa tội trần gian mà còn nhìn ngắm Ngài đang khải hoàn ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Tiếp đó, Hội Thánh xưng tụng Đức Kitô với ba danh hiệu: Đấng Thánh (Sanctus); Chủ Tể (Dominus); Đấng Tối Cao (Altissimus) vốn đã từng nằm trong các công thức tuyên xưng đức tin thời kỳ đầu Kitô giáo: nghĩa là, các tín hữu không những tuyên xưng thiên tính của Đức Kitô mà còn muốn khẳng định bằng cả mạng sống mình là họ chỉ tôn thờ một mình Người; còn các tà thần đều là thọ tạo phàm tục vì thuộc về trần thế. Chỉ có thể hiểu những điểm này khi biết bối cảnh lịch sử ra đời của kinh Vinh danh: đây là thời kỳ thần dân phải tôn thờ hoàng đế; thời kỳ của những lễ hội huy hoàng với những buổi thờ cúng các thần minh vốn bao gồm cả những cuộc hiến tế công cộng; các Kitô cũng bị lôi kéo và bị ép buộc phải tôn thờ hoàng đế và dâng hương cho các thần minh, nhưng họ đã cương quyết từ chối mà chỉ tuyên xưng và tôn thờ một mình Đức Kitô với danh hiệu Kyrios. Hành động này khiến họ bị nghi ngờ là đe dọa cho an ninh công cộng, là kẻ thù của thần minh và đất nước, nên đã thường xuyên bị bách hại và phải trả giá bằng cả tính mạng của mình.[14]    

Phần cuối, Gloria kết thúc với lời tôn vinh Đức Kitô, Chúa Thánh Thần và Chúa Cha vì cả Ba Ngôi đều chung nhau một vinh quang. Chính vì vậy bài ca này có tên là Gloria (Vinh danh) và bên phụng vụ Đông phương đặt tên là Vinh tụng ca lớn (doxologia major) đối lại với những Vinh tụng ca "ngắn" như kinh "Sáng danh Đức Chúa Cha và..." . Vinh tụng Ca Kết thúc kinh Vinh danh: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao, cùng Ðức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Ðức Chúa Cha" xem ra cũng gần gần tương tự như Vinh tụng ca trong Lễ quy của phụng vụ thánh Gioan Kim Khẩu bởi vì sau khi tư tế cao rao: "Của thánh dành cho dân thánh!" khi ngài đang giơ cao Mình Máu Thánh, ca đoàn sẽ đáp lại rằng: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, hướng đến vinh quang Ðức Chúa Cha".[15] 

Lm. Giuse Phạm Đình Ái,sss

(còn tiếp) 


  

[1] Phan Tấn Thành, Cử hành Bí tích Tình yêu, 146. 

[2] Nguyễn Thế Thủ, Phụng vụ Thánh Thể, 50.

[3] Xc. Phan Tấn Thành, Cử hành Bí tích Tình yêu, 146. 

[4] Le Gall, La Mess au fil de Ses Rites, 34-35.

[5] Ibid., loc. cit. 

[6] Johannes H. Emminghaus, The Eucharist - Essence, Form, Celebration, 124.

[7] Jungmann, sj, The Mass of the Roman Rite: Its Origins and Development, 1: 358.

[8] Lawrence J. Johnson, The Mystery of Faith, 18.

[9] Phan Tấn Thành, Cử hành Bí tích Tình yêu, 146-149. 

[10] Lawrence J. Johnson, The Mystery of Faith, 18.

[11] UBPT, Chú Thích Bản Dịch Nghi Thức Thanh Lễ 1992, 17-18; Anscar J. Chupungco, "The ICEL 2010 Translation", 140.

[12] Xc. John D. Laurance (ed),  The Sacrment of the Eucharist, 111.

[13] Johannes H. Emminghaus, The Eucharist - Essence, Form, Celebration, 126.  

[14] Xc. Adolf Adam, The Eucharist Celebration - the Source and Summit of Faith, 29.  

[15] Xc. Ibid., 126.