Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma

MISSALE ROMANUM

ÐƯỢC SOẠN THẢO THEO SẮC LỆNH

CỦA CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICANÔ II,

ÐƯỢC ÐỨC PHAOLÔ VI CÔNG BỐ

VÀ ÐỨC GIOAN PHAOLÔ II CÔNG NHẬN 

 

QUY CHẾ TỔNG QUÁT

Trích từ ấn bản mẫu lần ba, do Thánh bộ về Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Bí Tích chịu trách nhiệm in ấn

ROMA  2000

QUY CHẾ TỔNG QUÁT SÁCH LỄ RÔMA

Ðức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô II đã phê chuẩn chấp nhận ấn bản Sách Lễ Rôma mới ngày 11 tháng Giêng năm 2000. Thánh Bộ về Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Bí Tích ban hành ngày 20 tháng Tư, tuyên bố đây là bản mẫu, và coi sóc việc in ấn. Tuy nhiên, để cho bản văn Quy Chế Tổng Quát, nằm trong Sách Lễ Rôma đó, được nhận biết rộng rãi và được các Hội Ðồng Giám Mục cho dịch ra tiếng bản xứ, sau đó xin Toà Thánh công nhận, những trang sau đây, trích từ ấn bản mẫu thứ ba, được cho xuất bản riêng ra, theo đúng luật.  

Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Chí Cần phiên dịch để tham khảo.

Ghi chú quan trọng:

Trong Quy Chế Tổng Quát có phân biệt rõ giữa "sacerdos" và "presbyter" mà bản dịch Quy Chế Tổng Quát trong Sách Lễ Rôma xuất bản năm 1992 đều dịch là "linh mục". Vì "sacerdos" cử hành Thánh Lễ có thể là Giám Mục hay Linh Mục, nên thiết nghĩ dịch như trên không chính xác, và đề nghị dịch "sacerdos" là "vị tư tế".

LỜI MỞ  ÐẦU

Chứng tích về một đức tin không thay đổi

Công nhận truyền thống liên tục

Thích ứng với những điều kiện mới

1. Khi Chúa Kitô sắp cử hành bữa tiệc Vượt Qua với các môn đệ, trong đó, Người thiết lập hy lễ Mình và Máu Người, thì Người truyền phải sửa soạn một phòng rộng lớn, với đầy đủ tiện nghi (Lc 22,12). Mệnh lệnh này Hội Thánh vẫn nghĩ là cũng có liên hệ đến mình, khi ấn định những gì  để chuẩn bị tâm hồn, nơi chốn, nghi thức, bản văn liên quan đến việc cử hành Thánh Lễ. Những quy tắc ngày nay được ban hành thể theo ý muốn của Công Ðồng Vaticanô II, cũng như Sách Lễ mới mà từ nay Hội Thánh, theo nghi thức Rôma, sẽ dùng khi cử hành Thánh Lễ, tất cả những điều đó lại một lần nữa nói lên sự lo lắng, niềm tin và lòng mến không thay đổi của Hội Thánh đối với mầu nhiệm Thánh Thể cao siêu; đồng thời, cũng chứng tỏ truyền thống liên tục và hoà hợp của Hội Thánh, mặc dù có thêm một ít điều mới mẻ.

Chứng tích về một đức tin không thay đổi

2. Bản chất hy tế của Thánh Lễ đã được Công Ðồng Triđentinô long trọng xác quyết[I] [1] , phù hợp với truyền thống của toàn thể Hội Thánh, nay lại được tuyên xưng trong Công Ðồng Vaticanô II, với những lời rất có ý nghĩa sau đây về Thánh Lễ: "Trong bữa tiệc ly, Ðấng Cứu Chuộc chúng ta đã thiết lập hy lễ tạ ơn, bằng Mình và Máu Người, để hy lễ thập giá còn tồn tại mãi qua các thời đại cho đến khi Người lại đến, và để trao cho Hội Thánh, hiền thê yêu quý của Người, nghi thức tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Người".[II] [2]

Ðiều Công Ðồng dạy trên đây vẫn không ngừng được diễn tả trong các công thức của Thánh Lễ. Thật vậy, sách Nghi Thức của Ðức Lêô có nói rõ: "Mỗi lần cử hành việc tưởng niệm hy lễ này là công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện"[III] [3] , giáo lý đó được khai triển cách thích hợp và kỹ càng trong các kinh Tạ Ơn, vì trong các kinh này, khi cử hành nghi thức tưởng niệm, vị tư tế nhân danh toàn dân hướng về Thiên Chúa, cảm tạ và dâng lên Ngài hy lễ sống động và thánh thiện, tức là lễ phẩm của Hội Thánh và là lễ vật, được hiến tế, để làm nguôi lòng Thiên Chúa như Ngài muốn[IV] [4] ; vị tư tế cũng cầu xin để Mình và Máu Chúa Kitô trở nên hy lễ đẹp lòng Chúa Cha và đem lại ơn cứu độ cho toàn thếgiới.[V] [5]

Như thế là trong Sách Lễ mới, qui luật cầu nguyện của Hội Thánh phù hợp với qui luật bất biến của đức tin. Qui luật này dạy chúng ta rằng: hy lễ thập giá và việc tái diễn hy lễ đó cách bí tích trong Thánh Lễ, mà Chúa Kitô đã thiết lập trong bữa tiệc ly và truyền cho các Tông Ðồ phải làm để tưởng nhớ đến Người, cả hai chỉ là một, ngoại trừ cách thức hiến dâng có khác. Và, do đó cùng một trật, Thánh Lễ là hy lễ ngợi khen, cảm tạ, đền tội và xin ơn.

3. Mầu nhiệm lạ lùng về sự hiện diện thực sự của Chúa dưới hình bánh và hình rượu, đã được xác nhận trong Công Ðồng Vaticanô  II[VI] [6] , và trong các văn kiện khác của Huấn Quyền[VII] [7] , với cùng một ý nghĩa và tư tưởng như đã được Công Ðồng Triđentinô đặt thành tín điều[VIII] [8] . Trong khi cử hành Thánh Lễ, mầu nhiệm ấy được công bố, không những bằng lời truyền phép làm cho Chúa Kitô hiện diện do việc biến đổi bản thể, mà còn bằng tâm tình và thái độ hết sức cung kính, tôn thờ phải có trong phụng vụ Thánh Thể. Cũng vì lẽ ấy, ngày thứ Năm Tuần Thánh, trong lễ Chúa lập phép Thánh Thể và ngày lễ trọng kính Mình và Máu Thánh Chúa, giáo dân được mời gọi phải đặc biệt kính thờ bí tích huyền diệu này.

4. Còn về bản chất chức tư tế thừa tác thuộc riêng linh mục, khi nhân danh Chúa Kitô mà hiến dâng hy lễ và chủ toạ cộng đồng dân thánh, bản chất ấy nổi bật trong chính nghi thức cử hành, do vị trí đặc biệt và do phận vụ của vị tư tế. Những đặc điểm của phận vụ này được công bố và giải thích rõ ràng sâu rộng trong lời tiền tụng Thánh Lễ làm phép dầu, ngày thứ Năm Tuần Thánh, ngày kỷ niệm thành lập chức tư tế. Thật vậy, trong lời tiền tụng nói trên, có đề cập rõ ràng đến việc trao ban chức tư tế do việc đặt tay, và quyền chức này được diễn tả với từng nghĩa vụ riêng biệt; quyền chức đó tiếp tục quyền chức của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế của Giao Ước mới.

5. Nhưng cùng với bản chất chức tư tế thừa tác, cũng được đưa ra ánh sáng một thực tại quan trọng khác, đó là chức tư tế vương giả của giáo dân: qua thừa tác vụ của các vị tư tế, hy lễ thiêng liêng của giáo dân được hoàn tất nhờ hợp nhất với hy lễ của Chúa Kitô, Ðấng Trung Gian duy nhất.[IX] [9] Thật vậy, việc cử hành Thánh Lễ là việc của toàn thể Hội Thánh, trong đó mỗi người chỉ làm và làm trọn công việc thuộc về mình, tùy theo cấp bậc của mình trong dân Thiên Chúa. Bởi thế, phải chú trọng hơn đến mấy khía cạnh của việc cử hành Thánh Lễ, mà trong những thế kỷ trước, người ta ít lưu tâm đến. Vì dân này là dân Thiên Chúa, được chuộc về bằng giá máu Ðức Kitô, được Chúa quy tụ, được Lời Người nuôi dưỡng; là dân được kêu gọi để dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện của toàn thể gia đình nhân loại, là dân hiến dâng hy lễ của Ðức Kitô, để trong Người mà tạ ơn về mầu nhiệm cứu độ; và sau hết, là dân liên kết với nhau nên một, nhờ thông phần Mình và Máu Ðức Kitô. Dân này, mặc dầu từ nguồn gốc đã là thánh, nhưng nhờ sự thông phần một cách có ý thức, linh động và hữu hiệu vào mầu nhiệm Thánh Thể, sẽ không ngừng tiến triển trên con đường thánh thiện.[X] [10]

Công nhận truyền thống liên tục

6. Khi ban bố những chỉ thị nhằm duyệt lại nghi thức Thánh Lễ, Công Ðồng Vaticanô II, ngoài những chỉ thị khác, cũng truyền phải phục hồi một ít nghi thức, theo "Quy tắc cổ kính của các thánh Giáo Phụ",[XI] [11] nghĩa là đã dùng chính những lời của thánh Piô V ghi trong Tông Hiến "Quo primum", để công bố Sách Lễ của Công Ðồng Triđentinô năm 1570. Chính vì những lời đó trùng hợp, mà ta có thể nhận thấy lý do tại sao hai cuốn Sách Lễ Rôma, mặc dầu cách nhau bốn thế kỷ, vẫn bao gồm một truyền thống như nhau. Nếu cân nhắc các yếu tố nội tại của truyền thống này, chúng ta cũng thấy cuốn thứ hai bổ túc cho cuốn thứ nhất một cách khéo léo và tốt đẹp.

7. Ðã hẳn, vào thời buổi khó khăn, khi đức tin công giáo về bản chất hy lễ của Thánh Lễ, về chức tư tế thừa tác, về sự hiện diện thực sự và liên tục của Ðức Kitô dưới hình bánh và hình rượu gặp nguy hiểm, thì mối bận tâm đầu tiên của thánh Piô V là lo bảo tồn truyền thống còn mới, đang bị tấn công một cách bừa bãi, bằng cách thay đổi rất ít trong nghi thức thánh. Thật vậy, cuốn Sách Lễ năm 1570 chỉ hơi khác cuốn Sách Lễ in đầu tiên, vào năm 1474, và cuốn này lại trung thành lặp lại cuốn Sách Lễ thời Ðức Innôsenxiô III. Ngoài ra, các cổ bản thư viện Vaticanô, mặc dầu đã cung cấp một số dị bản tốt hơn, nhưng cũng không giúp cho việc nghiên cứu "các tác giả cổ xưa và có uy tín", đi xa hơn các bản văn chú giải phụng vụ thời trung cổ.

8. Trái lại, "Quy tắc cổ kính của các thánh giáo phụ" khi xưa đã được dùng làm căn bản cho các nhà tu chính có trách nhiệm soạn ra Sách Lễ Thánh Piô V, thì quy tắc ấy ngày nay được thêm phong phú, nhờ rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả. Vì sau khi Sách Nghi Thức của Thánh Grêgôriô  được xuất bản lần đầu năm 1571, thì các Sách Nghi Thức Rôma cổ và Amrôsiô cổ cũng được xuất bản nhiều lần, có ghi chú các dị bản. Các sách phụng vụ cổ Tây Ban Nha và Galicăng cũng được xuất bản và đưa ra ánh sáng rất nhiều kinh nguyện có giá trị thiêng liêng không nhỏ, mà tới bấy giờ người ta chưa biết.

Cũng vậy, ngày nay, càng tìm ra được nhiều tài liệu phụng vụ, thì càng biết rõ hơn truyền thống của các thế kỷ đầu đã có, trước khi nghi thức Ðông phương và Tây phương thành hình.

Vả lại, sự tiến bộ trong việc nghiên cứu các thánh Giáo Phụ đã soi sáng khoa thần học về mầu nhiệm Thánh Thể, nhờ giáo lý của các Giáo Phụ kiệt xuất của Kitô giáo thời xưa như Thánh Irênê, Thánh Amrôxiô, Thánh Syrilô Giêrusalem, Thánh Gioan Kim Khẩu.

9. Bởi vậy, "Quy tắc cổ kính của các thánh giáo phụ" không những đòi hỏi phải bảo tồn những gì cha ông kế cận chúng ta đã truyền lại, mà còn phải tìm hiểu và cân nhắc kỹ lưỡng hơn tất cả quá khứ của Hội Thánh và tất cả các hình thức, mà đức tin duy nhất của Hội Thánh đã được tuyên xưng trong các nền văn hoá nhân bản và trần thế rất khác nhau, như trong các miền Sêmít, Hylạp, Latinh. Cái nhìn bao quát này giúp chúng ta nhận thấy rằng Chúa Thánh Thần đã ban cho dân Thiên Chúa sự trung tín lạ lùng, trong việc bảo tồn kho tàng đức tin bất biến, mặc dầu có nhiều kinh nguyện và nghi lễ rất khác nhau.

Thích ứng với những điều kiện mới

10. Như thế, Sách Lễ mới, khi nói lên quy luật cầu nguyện của Hội Thánh Rôma và bảo vệ kho tàng đức tin do các Công Ðồng gần đây truyền lại, thì Sách Lễ mới cũng đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong truyền thống phụng vụ.

Quả thế, khi các nghị phụ Công Ðồng Vaticanô II nhắc lại những xác quyết tín lý của Công Ðồng Triđentinô? các ngài đã lên tiếng trong một thời đại khác xa với trước; nên trong vấn đề mục vụ, các ngài có thể  đưa ra những đề nghị và những lời khuyên mà trước đó bốn thế kỷ, người ta không thể tiên đoán được.

11. Công Ðồng Triđentinô  đã nhận thấy ích lợi huấn giáo lớn lao trong việc cử hành Thánh Lễ, nhưng chưa rút ra được từ đó tất cả các hiệu quả thực tiễn. Thật vậy, có nhiều người đã xin Công Ðồng cho phép dùng tiếng bản xứ khi cử hành Thánh Lễ. Nhưng trước lời thỉnh cầu này, Công Ðồng đã xét tới hoàn cảnh đáng lưu tâm lúc đó, mà nghĩ rằng: nhiệm vụ của Công Ðồng là nhấn mạnh một lần nữa đến giáo lý truyền thống của Hội Thánh: hy lễ Thánh Thể, trước hết, là hành động của chính Chúa Kitô, cho nên hiệu năng riêng của Thánh Lễ không bị ảnh hưởng do cung cách tham dự của tín hữu. Bởi đó, Công Ðồng đã dùng những lời vừa mạnh mẽ vừa đắn đo như sau: "Mặc dầu Thánh Lễ có hàm chứa một nền giáo huấn phong phú cho giáo dân, nhưng các nghị phụ nhận thấy là cử hành Thánh Lễ khắp nơi bằng tiếng bản xứ, thì không có lợi".[XII] [12] Và Công Ðồng đã lên án kẻ nào chủ trương rằng: "Phải lên án nghi lễ Hội Thánh Rôma dạy đọc nhỏ tiếng phần Lễ Quy và lời truyền phép; hoặc, phải cử hành Thánh Lễ bằng tiếng bản xứ mà thôi".[XIII] [13] Dầu vậy, một đàng Công Ðồng cấm dùng tiếng bản xứ trong Thánh Lễ, một đàng lại truyền cho các mục tử phải dùng lời giáo huấn thích hợp để thay thế: "Ðể đoàn chiên Ðức Kitô khỏi phải đói khát". Công đồng truyền cho các mục tử và hết mọi người có trách nhiệm coi sóc các linh hồn phải hoặc tự mình, hoặc nhờ người khác, năng trình bày khi cử hành Thánh Lễ một vài điều trong những điều đọc trong Thánh Lễ, và trong số các mầu nhiệm, phải diễn giảng một vài điều về mầu nhiệm hy lễ rất thánh này, nhất là trong các Chúa Nhật và lễ trọng".[XIV] [14]

12. Công Ðồng Vaticanô II, đã  được triệu tập để làm cho Hội Thánh thích nghi với các nhu cầu của nhiệm vụ tông đồ trong thời đại này. Công Ðồng này, cũng như Công Ðồng Triđentinô? đã nghiên cứu sâu xa tính chất giáo huấn và mục vụ của phụng vụ thánh.[XV] [15] Vì không một người công giáo nào phủ nhận tính cách hợp pháp và hữu hiệu của nghi lễ thánh được cử hành bằng tiếng Latinh, nên Công Ðồng cũng có thể công nhận rằng: "Nhiều khi việc dùng tiếng bản xứ có thể rất hữu ích cho dân chúng", và đã cho phép dùng tiếng bản xứ.[XVI] [16] Quyết định trên đây đã được nồng nhiệt đón nhận khắp nơi, do đó kết quả là: dưới quyền lãnh đạo của các giám mục và của chính Tông Toà, mọi cử hành phụng vụ có giáo dân tham dự đều được phép cử hành bằng tiếng bản xứ, để mầu nhiệm cử hành được am hiểu đầy đủ hơn.

13. Tuy nhiên, vì việc dùng tiếng bản xứ trong phụng vụ thánh chỉ là một phương tiện dù rất quan trọng để trình bày rõ ràng hơn giáo huấn về mầu nhiệm chứa đựng trong việc cửhành, nên Công Ðồng Vaticanô II còn nhắn nhủ phải thực thi một số chỉ thị của Công Ðồng Triđentinô đã không được tuân giữ ở khắp nơi, như phải diễn giảng trong các ngày Chúa Nhật và lễ trọng,[XVII] [17] và được phép xen ít lời nhắc bảo vào giữa các nghi lễ thánh.[XVIII] [18]

Công Ðồng Vaticanô II đã khuyên "giáo dân tham dự Thánh Lễ cách hoàn hảo hơn bằng cách rước Mình Thánh Chúa, được truyền phép trong cùng một Thánh Lễ sau khi vị tư tế rước lễ rồi".[XIX] [19] Làm như vậy Công Ðồng đặc biệt thúc đẩy thực hiện một ước nguyện khác của các nghị phụ Công Ðồng Triđentinô là, để tham dự mầu nhiệm Thánh Thể cách đầy đủ hơn, thì "trong mỗi Thánh Lễ, các tín hữu tham dự phải thông hiệp, không những bằng tâm tình thiêng liêng, mà còn bằng việc lãnh bí tích Thánh Thể nữa".[XX] [20]  

14. Cũng với một tinh thần và nhiệt tâm mục vụ đó, Công Ðồng Vaticanô II đã có một lý do mới, để có thể cân nhắc quyết định của Công Ðồng Triđentinô về việc rước lễ dưới hai hình. Thật vậy, ngày nay, không còn ai nghi ngờ những nguyên tắc giáo lý về hiệu lực rất đầy đủ của việc rước lễ dưới một hình bánh, nên Công Ðồng đã đôi khi cho phép được rước lễ dưới hai hình, nghĩa là nhờ một hình thức biểu lộ dấu bí tích rõ ràng hơn, giáo dân có cơ hội đặc biệt để hiểu sâu hơn mầu nhiệm họ tham dự.[XXI] [21]

15. Như vậy, trong khi vẫn trung thành với chức vụ của mình là thầy dạy chân lý, Hội Thánh gìn giữ những điều "cũ" tức là kho tàng truyền thống, cũng như chu toàn bổn phận xem xét và khôn ngoan sử dụng những điều "mới".  

Quả thế, một phần Sách Lễ mới rõ ràng hướng các kinh nguyện của Hội Thánh về những nhu cầu của thời đại chúng ta; thuộc loại này đặc biệt là các lễ có nghi thức riêng và các lễ "tùy nhu cầu", trong đó, truyền thống và những yếu tố mới được kết hợp với nhau một cách hài hoà. Bởi đó, có nhiều kiểu nói vẫn còn giữ nguyên vẹn, rút ra từ truyền thống rất xa xưa của Hội Thánh, mà Sách Lễ Rôma, qua nhiều lần xuất bản đã cho ta thấy. Nhiều kiểu nói khác đã được thích nghi với các đòi hỏi và hoàn cảnh của thời nay. Ngược lại, có những kiểu nói khác, như các lời nguyện cầu cho Hội Thánh, cho giáo dân, cho việc thánh hoá lao động, cho cộng đồng các dân tộc, cho một số nhu cầu riêng của thời đại chúng ta, thì hoàn toàn được sáng tác theo tư tưởng, và nhiều khi theo chính những kiểu nói trong các văn kiện gần đây của Công Ðồng.

Cũng vì ý thức tình trạng mới của thế giới hôm nay, nên khi sử dụng những bản văn cổ truyền, xem ra ta không làm tổn thương gì đến kho tàng khả kính, nếu có thay đổi một vài câu, để lời văn thích hợp hơn với ngôn ngữ thần học ngày nay, và cũng thực sự phù hợp với hiện tình kỷ luật của Hội Thánh. Do đó đã thay đổi một số câu liên quan đến việc đánh giá và sử dụng của cải trần gian, và một số câu trình bày hình thức sám hối bề ngoài, thuộc những thời đại khác của Hội Thánh.

Bằng cách đó những quy tắc phụng vụ của Công Ðồng Triđentinô đã được bổ túc và kiện toàn trong nhiều điểm nhờ những quy tắc của Công Ðồng Vaticanô II. Công Ðồng này đã đưa tới đích những cố gắng nhằm đem giáo dân tới gần phụng vụ hơn. Những cố gắng ấy đã diễn ra qua bốn thế kỷ nay, đặc biệt trong thời đại gần đây, nhất là nhờ việc nghiên cứu phụng vụ do Thánh Piô X và các đấng kế vị cổ võ.

Chương I:  TẦM QUAN TRỌNG VÀ SỰ CAO QUÝ CỦA VIỆC CỬ HÀNH THÁNH LỄ

16. Việc cử hành Thánh Lễ, với tính cách là hành động của Ðức Kitô và của dân Thiên Chúa, được tổ chức theo phẩm trật, là trung tâm toàn bộ đời sống kitô giáo, đối với Hội Thánh toàn cầu, cũng như Hội Thánh địa phương và đối với từng tín hữu.[XXII] [22] Thật vậy, trong việc cử hành này, hành động Thiên Chúa thánh hoá thế gian trong Ðức Kitô, và việc phụng tự mà nhân loại dâng lên Chúa Cha, để thờ lạy Ngài nhờ Ðức Kitô, Con Thiên Chúa trong Chúa Thánh Thần, đạt tới điểm cao nhất.[XXIII] [23] Hơn nữa, trong Thánh Lễ, các mầu nhiệm ơn cứu chuộc được kính nhớ qua chu kỳ một năm, khiến mầu nhiệm này được hiện tại hoá một cách nào đó.[XXIV] [24] Còn các hành động thánh khác và tất cả các công việc của đời sống kitô hữu đều gắn liền với Thánh Lễ, phát xuất từ Thánh Lễ và hướng về Thánh Lễ.[XXV] [25]

17. Bởi thế phải hết sức lo cho việc cử hành Thánh Lễ, tức là cử hành bữa tối của Chúa, được tổ chức thế nào, để các thừa tác viên và các tín hữu, khi tham dự tùy theo địa vị mình, được lãnh nhận các hiệu quả dồi dào hơn.[XXVI] [26] Ðể được những hiệu quả này, Chúa Kitô đã thiết lập hy lễ tạ ơn, là hy lễ Mình và Máu Người, và đã ủy thác cho Hội Thánh, vịhiền thê yêu quý, hy lễ này làm nghi thức tưởng niệm cuộc khổ nạn và phục sinh của Người.[XXVII] [27]

18. Ðiều này có thể đạt được, nếu ta để ý đến bản chất và hoàn cảnh của mỗi cộng đoàn, mà xếp đặt toàn bộ việc cử hành thế nào, để giúp các tín hữu tham dự với cả xác hồn, một cách ý thức, tích cực, đầy đủ, và với lòng tin, cậy, mến nồng nàn. Ðó là việc tham dự mà Hội Thánh mong muốn, và bản chất việc cử hành đòi hỏi, lại cũng là quyền lợi và nghĩa vụcủa giáo dân, phát xuất từ bí tích Thánh Tẩy.[XXVIII] [28]

19. Sự hiện diện và tham dự tích cực của các tín hữu biểu lộ rõ hơn tính chất cộng đoàn Hội Thánh của việc tế lễ,[XXIX] [29] mặc dầu những điều đó đôi khi không thực hiện được, nhưng việc cử hành Thánh Lễ vẫn luôn luôn có hiệu quả và mang tính chất cao quí, vì là việc của Chúa Kitô và của Hội Thánh, trong việc đó, vị tư tế chu toàn phận vụ ưu tiên của mình và luôn luôn hành động vì sự cứu rỗi của dân.

Vì vậy, khuyên các tư tế cử hành Thánh Lễ mỗi ngày, khi có thể.[XXX] [30]

20. Việc cử hành Thánh Lễ, cũng như toàn bộ phụng vụ, được thực hiện qua các dấu chỉ khả giác, nhờ đó đức tin được nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả.[XXXI] [31] Vì thế, phải hết sức lo liệu, lựa chọn và sắp xếp các hình thức và các yếu tố Hội Thánh đã đề ra, để tùy theo hoàn cảnh nhân sự và nơi chốn, các hình thức và yếu tố đó giúp đắc lực hơn cho việc tham dự được tích cực và đầy đủ, đồng thời đáp ứng cách thích hợp hơn lợi ích thiêng liêng của tín hữu.

21. Vì vậy, Quy Chế này nhằm mục đích vừa vạch ra những nét đại cương để tổ chức việc cử hành Thánh Lễ cho thích đáng, vừa trình bày những luật lệ để sắp xếp từng hình thức cử hành.[XXXII] [32]

22. Việc cử hành lễ Tạ  Ơn có một tầm quan trọng rất lớn trong Hội Thánh địa phương.

Thật vậy, với tư cách là người phân phát chính các mầu nhiệm của Thiên Chúa trong Hội Thánh địa phương được trao phó cho mình, Giám Mục giáo phận là nhà điều hành, cổ võ và bảo vệ toàn bộ đời sống phụng vụ.[XXXIII] [33] Trong các cử hành được thực hiện dưới sự chủ toạ của ngài, nhất là trong cử hành Thánh Lễ được ngài đảm trách với sự tham dự của linh mục đoàn, các phó tế và giáo dân, thì mầu nhiệm Hội Thánh được biểu lộ. Chính vì thế, tính long trọng của các Thánh Lễ thuộc loại này phải là mẫu mực cho toàn giáo phận.

Giám Mục phải lưu tâm lo cho các linh mục, phó tế và giáo dân luôn luôn hiểu biết sâu sắc hơn ý nghĩa đích thực của các nghi thức và các bản văn phụng vụ, và hướng dẫn để việc cửhành Thánh Lễ được sinh động và có hiệu quả. Ngài cũng phải cảnh giác để các cử hành được thêm phần cao quý nhờ vẻ mỹ quan của các nơi thánh, âm nhạc và nghệ thuật.

23. Ðể cho việc cử hành đáp ứng đầy đủ các luật lệ và tinh thần của Phụng Vụ thánh, và để cho hiệu quả của nó được gia tăng, thì trong Quy Chế Tổng Quát này và trong Lễ Qui, có  đưa ra vài thích ứng và thích nghi.

24. Các thích nghi này, mà phần lớn nằm trong việc lựa chọn vài nghi thức hay bản văn, chẳng hạn các bài ca, bài đọc, kinh nguyện, nhắc nhở và điệu bộ, nhằm đáp ứng hơn các nhu cầu, hoàn cảnh và khả năng của các tham dự viên, được trao phó cho vị tư tế chủ sự. Tuy nhiên, vị tư tế nên nhớ mình là người phục vụ Phụng vụ Thánh, và không được tự  ý thêm bớt hay thay đổi gì trong cử hành Thánh Lễ.[XXXIV] [34]

25. Trong các thích nghi được phép làm trong Sách Lễ, thì chiếu theo Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, có cái thuộc quyền Giám Mục giáo phận, có cái thuộc Hội Ðồng Giám Mục[XXXV][35] (xem sau nn. 387, 388393).

26. Nếu phải đưa ra những thay đổi và thích nghi sâu rộng hơn, hầu đáp ứng các truyền thống và não trạng các dân tộc, theo tinh thần số 40 Hiến Chế về Phụng Vụ thánh, thì nên giữ những gì được trình bày trong Huấn Thị "Phụng vụ Rôma và hội nhập văn hoá"[XXXVI] [36] và các số 395399 của Quy Chế Tổng Quát này.

Chương II: CƠ CẤU THÁNH LỄ, CÁC YẾU TỐ VÀ CÁC PHẦN CỦA THÁNH LỄ

I. CƠ CẤU TỔNG QUÁT CỦA THÁNH LỄ

II. NHỮNG YẾU TỐ KHÁC NHAU CỦA THÁNH LỄ

Ðọc và diễn giải Lời Chúa

Các lời nguyện và các phần khác dành cho vị tư tế

Những công thức khác dùng trong Thánh Lễ

Cách đọc các bản văn khác nhau

Tầm quan trọng của bài hát

Cử chỉ và điệu bộ

Thinh lặng

III. TỪNG PHẦN CỦA THÁNH LỄ

A. Nghi thức đầu lễ

Ca nhập lễ

Chào bàn thờ và cộng đoàn

Nghi thức sám hối

Lạy Chúa, xin thương xót

Kinh Vinh Danh

Lời nguyện nhập lễ

B. Phụng vụ Lời Chúa

Thinh lặng

Các bài đọc Thánh Kinh

Thánh vịnh đáp ca

Tung hô trước khi đọc Tin Mừng

Bài diễn giảng

Lời tuyên xưng đức tin

Lời nguyện cho mọi người

C. Phụng vụ Thánh Thể

Chuẩn bị lễ phẩm

Lời nguyện tiến lễ

Kinh Tạ Ơn

Nghi thức hiệp lễ

Kinh Lạy Cha

Nghi thức chúc bình an

Bẻ bánh

Hiệp lễ

D. Nghi thức kết thúc

I.  CƠ CẤU TỔNG QUÁT CỦA THÁNH LỄ

27. Trong Thánh Lễ, tức là bữa tối của Chúa, dân Thiên Chúa được triệu tập thành một khối, có vị tư tế chủ toạ và đại diện Chúa Kitô, để cử hành nghi thức tưởng niệm Người, tức là hy lễ Tạ Ơn.[XXXVII] [37] Vì thế, Hội Thánh tập hợp tại một nơi, là thực hiện cách tuyệt vời lời hứa của Chúa Kitô: "Ở đâu có hai, ba người hội họp nhân danh Thầy, thì có Thầy ởgiữa họ" (Mt 10,20). Cử hành Thánh Lễ là làm cho hy lễ thập giá tồn tại mãi.[XXXVIII] [38] Trong việc cử hành này, Chúa Kitô thực sự hiện diện trong chính cộng đoàn hội họp nhân danh Người, trong thừa tác viên, trong Lời Người và chính bản thể Người thực sự hiện diện liên tục dưới hình bánh và hình rượu.[XXXIX] [39]

28. Có thể nói Thánh Lễ gồm hai phần: phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể; cả hai phần liên kết chặt chẻ với nhau đến nỗi làm nên một hành vi phụng tự duy nhất.[xl] [40]Quả thật trong Thánh Lễ có dọn sẵn bàn tiệc Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, để các tín hữu được giáo huấn và bổ dưỡng.[xli] [41] Lại có những nghi thức mở đầu và kết thúc việc cử hành.

II. NHỮNG YẾU TỐ KHÁC NHAU CỦA THÁNH LỄ

Ðọc và diễn giải Lời Chúa

29. Qua lời Thánh Kinh đọc trong Hội Thánh, chính Thiên Chúa nói với dân Ngài và Ðức Kitô, hiện diện trong lời của mình, loan báo Tin Mừng.

Bởi đó, mọi người phải kính cẩn lắng nghe các bài đọc Lời Chúa, một yếu tố rất quan trọng trong phụng vụ. Mặc dầu Lời Chúa trong các bài đọc Thánh Kinh hướng về mọi người,thuộc mọi thời đại, và họ có thể hiểu được, nhưng Lời Chúa sẽ thêm hiệu lực, nhờ việc trình bày sống động, tức là nhờ bài diễn giảng, là thành phần của hành động phụng vụ.[xlii][42]

Các lời nguyện và các phần khác dành cho vị tư tế

30. Trong các phần dành cho vị tư tế, thì trên hết là kinh Tạ Ơn, điểm cao nhất của toàn thể việc cử hành. Kế đến là các lời nguyện, tức là lời nguyện nhập lễ, lời nguyện tiến lễ và lời nguyện hiệp lễ, vị tư tế, đại diện Chúa Kitô, chủ toạ cộng đoàn, nhân danh toàn thể dân thánh và mọi người hiện diện, mà dâng các kinh nguyện này lên Thiên Chúa.[xliii] [43] Vì thế, gọi các kinh này là "lời nguyện của vị chủ toạ" thì thật đúng.

31. Vị tư tế, trong chức vụ chủ toạ cộng đoàn được triệu tập: nói ít lời nhắn nhủ như đã trù liệu trong chính nghi thức. Chỗ nào luật chữ đỏ qui định, chủ tế được phép thích nghi các lời nhắn nhủ ấy để đáp ứng với trình độ của người tham dự. Tuy vậy, vị tư tế phải chú tâm luôn luôn phục vụ ý hướng của lời nhắn nhủ, được đề nghị trong sách phụng vụ và chỉ nên nói vắn tắt. Cũng dành cho vị tư tế chủ toạ việc loan truyền Lời Chúa và ban phép lành cuối lễ. Ngoài ra, vị tư tế cũng được phép nói vắn tắt mấy lời trước khi cử hành để hướng dẫn giáo dân vào Thánh Lễ ngày hôm đó, sau lời chào đầu lễ và trước nghi thức thống hối, trước các bài đọc để hướng dẫn vào phụng vụ Lời Chúa, trước lời tiền tụng để hướng dẫn vào kinh Tạ Ơn, nhưng không bao giờ vào giữa kinh này, và trước khi giải tán giáo dân để kết thúc toàn bộ việc cử hành.

32. Tính chất các phần dành cho vị chủ toạ buộc vị tư tế phải đọc rõ ràng, lớn tiếng, và buộc mọi người phải chăm chú lắng nghe.[xliv] [44] Vì thế, khi vị tư tế đọc các phần đó, không ai được đọc hay hát kinh nào khác, cũng không được đánh đàn hay chơi nhạc cụ nào khác.

33. Vị tư tế, với tư cách là chủ toạ, đọc các kinh nguyện nhân danh Hội Thánh và cộng đoàn tập họp. Tuy nhiên, đôi khi ngài cầu nguyện nhân danh chính mình, để chu toàn thừa tác vụ với một tâm hồn chăm chú và đạo đức hơn. Vị tư tế  đọc thầm các kinh này, vào những lúc trước khi đọc Tin Mừng, khi chuẩn bị lễ phẩm, cũng như trước và sau khi ngài rước lễ.

Những công thức khác dùng trong Thánh Lễ

34. Tự bản chất, việc cử hành Thánh Lễ có tính cách cộng đoàn,[xlv] [45] cho nên những lời đối thoại giữa vị chủ tế và cộng đoàn tín hữu, cũng như các lời tung hô, đều có giá trị lớn,[xlvi] [46] vì  đó không phải chỉ là những dấu bề ngoài của một việc cử hành chung, mà còn giúp và tạo nên sự hiệp thông giữa vị tư tế và giáo dân.

35. Các câu tung hô và các câu tín hữu đáp lại lời chào và lời cầu nguyện của vị tư tế, tạo nên một mức độ tham dự tích cực. Mức độ tham dự này phải được cộng đoàn tín hữu thực hiện trong mọi hình thức Thánh Lễ, để hành động của toàn thể cộng đoàn được biểu lộ rõ ràng và được khuyến khích.[xlvii] [47]

36. Các phần khác cũng rất hữu ích để biểu lộ và khuyến khích việc tham dự tích cực của tín hữu, đó là những phần của toàn thể cộng đoàn, đặc biệt là nghi thức sám hối, lời tuyên xưng đức tin, lời nguyện cho mọi người và kinh Lạy Cha.

37. Sau hết, trong các công thức khác:

a. Có những công thức tạo nên một nghi thức hay một hành vi biệt lập, như kinh Vinh Danh, thánh vịnh đáp ca, Alêluia và lời tung hô Tin Mừng, bài ca Thánh Thánh Thánh, lời tung hô sau truyền phép, bài hát sau hiệp lễ.

b. Có những công thức khác kèm theo một nghi thức, như ca nhập lễ, ca tiến lễ, ca bẻ bánh (lạy Chiên Thiên Chúa) và ca hiệp lễ.

Cách đọc các bản văn khác nhau

38. Khi vị tư tế, người giúp lễ hay mọi người phải đọc các bản văn cách rõ ràng và lớn tiếng, thì phải liệu sao cho giọng nói phù hợp với từng loại bản văn, tùy như đó là bài đọc, lời nguyện, lời nhắn nhủ, lời tung hô hay bài hát, đồng thời cũng phải phù hợp với hình thức cử hành và tính cách long trọng của buổi lễ. Ngoài ra, còn phải để ý đến tính chất của các ngôn ngữ khác nhau và cách cảm nghĩ của mỗi dân tộc.

Vậy trong các nghi tiết và các quy tắc sau đây, các từ "nói" hay "đọc" phải hiểu cả về hát lẫn đọc, miễn là giữ các nguyên tắc nêu trên.

Tầm quan trọng của bài hát

39. Thánh Tông Ðồ khuyên kitô hữu, lúc hội họp trông đợi Chúa đến, hãy cùng nhau hát những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thánh Thần linh hứng (x. Cl 3,16). Quả vậy, hát là dấu chỉ niềm vui trong tâm hồn (x. Cv 2,46). Bởi đó, thánh Augúttinô nói đúng: "Người nào yêu thì hát".[xlviii] [48] Và ngay từ ngàn xưa, câu: "Ai hát hay là cầu nguyện gấp đôi" đã trở thành ngạn ngữ.

40. Vậy việc sử dụng ca hát trong cử hành Thánh Lễ phải là điều quan trọng, sau khi đã lưu ý đến cách cảm nghĩ của mỗi dân tộc và khả năng của mỗi cộng đoàn. Dù không luôn luôn cần phải hát tất cả các bản văn tự chúng đã được trù liệu để hát, chẳng hạn trong các Thánh Lễ ngày thường, nhưng trong các cử hành vào Chúa Nhật và lễ trọng thì lo sao đừng thiếu tiếng hát của các thừa tác viên và dân chúng.

Nhưng khi chọn lựa những phần để hát thực sự thì hãy dành ưu tiên cho những phần quan trọng hơn, nhất là những phần do vị tư tế hay phó tế hay người giúp lễ hát, giáo dân thưa,hoặc những phần mà cả vị tư tế lẫn giáo dân cùng hát.[xlix] [49]

41. Chiếm vị trí hàng đầu là hát grêgôriô, như là đặc điểm của phụng vụ Rôma. Mọi loại thánh nhạc khác, nhất là đa giọng, cũng được phép sử dụng nếu chúng đáp ứng với tinh thần của hành vi phụng vụ và trợ giúp sự tham dự của mọi tín hữu.[l] [50] Vì giáo dân thuộc nhiều quốc tịch mỗi ngày một năng hội họp với nhau hơn, nên ước gì họ có thể cùng nhau hát bằng tiếng Latinh, ít là một vài kinh trong phần Thường Lễ, nhất là kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha, với những cung điệu dễ hát.[li] [51]

Cử chỉ và  điệu bộ

42. Cử chỉ và điệu bộ thân thể của vị tư tế, phó tế, các thừa tác viên, cũng như của giáo dân nhằm làm cho toàn bộ cuộc cử hành toát ra vẻ đẹp, sự thanh cao và đơn sơ, làm cho ý nghĩa thật sự và đầy đủ của các phần khác nhau được nhận thức và làm cho sự tham dự của mọi người được khuyến khích.[lii] [52] Do đó, phải chú ý đến những gì được qui định bởi luật phụng vụ và thực hành truyền thống của Nghi Lễ Rôma, và những gì mang lại lợi ích thiêng liêng chung cho Dân Chúa hơn là ý thích riêng hay tùy tiện.

Ðiệu bộ chung của thân thể mà mọi người tham dự phải giữ là dấu chỉ tính tập thể và hiệp nhất của các phần tử cộng đoàn kitô tập họp cử hành Phụng Vụ thánh: nó biểu lộ và khíchlệ tâm hồn cũng như tình cảm của các người tham dự.[liii] [53]

43. Tín hữu đứng: từ  đầu ca nhập lễ, hoặc khi vị tư tế tiến tới bàn thờ, cho đến hết lời nguyện nhập lễ; khi hát Alêluia trước Tin Mừng; khi công bố Tin Mừng; khi đọc kinh Tin Kính và lời nguyện cho mọi người; từ lời mời Anh em hãy cầu nguyện trước lời nguyện tiến lễ cho đến hết lễ, trừ những gì sẽ nói sau.

Còn ngồi: khi đọc các bài đọc và thánh vịnh đáp ca trước Tin Mừng, khi nghe diễn giảng và khi sửa soạn lễ phẩm cho phần dâng lễ; và tùy nghi khi giữ thinh lặng thánh sau hiệp lễ.

Sẽ quỳ, khi truyền phép Mình Thánh, Máu Thánh, trừ khi vì lý do sức khoẻ, vì nơi chật hẹp, hoặc vì quá đông người dự lễ, hay vì những lý do chính đáng khác, không thể quỳ được. Những người không quì khi truyền phép thì phải cúi mình sâu khi vị tư tế quì gối sau truyền phép.

Tuy nhiên, Hội Ðồng Giám Mục được quyền thích nghi các cử chỉ và điệu bộ ghi trong phần Thường Lễ của Sách Lễ Rôma, sao cho phù hợp với cách cảm nghĩ của mỗi dân tộc.[liv][54] Nhưng cũng phải liệu sao cho phù hợp với ý nghĩa và tính chất của từng phần Thánh Lễ. Ở đâu giáo dân có thói quen quỳ suốt sau câu tung hô Thánh Thánh Thánh cho đến hết Kinh Nguyện Thánh Thể, thì đó là điều đáng khen nên duy trì.

Ðể có sự đồng nhất về cử chỉ và điệu bộ trong cùng một cử hành, các tín hữu phải tuân theo lời hướng dẫn của phó tế hay thừa tác viên giáo dân, hay vị tư tế theo như các sách phụng vụ qui định.

44. Trong các cử chỉ cũng phải kể đến các hành động và đi rước, như việc vị tư tế cùng với phó tế và các thừa tác viên tiến tới bàn thờ, việc phó tế cầm sách Tin Mừng đi đến giảng đài trước khi công bố Tin Mừng, việc giáo dân tiến dâng lễ phẩm và tiến lên hiệp lễ. Nên liệu sao cho các hành động và đi rước đó diễn ra cách đẹp đẽ, kèm theo những bài hát xứng hợp như quy luật đã ấn định cho từng việc.

Thinh lặng

45. Sự thinh lặng thánh, kể như thành phần của việc cử hành Thánh Lễ, cũng phải được tuân giữ đúng lúc.[lv] [55] Bản chất của sự thinh lặng tùy thuộc vào lúc phải giữ trong Thánh Lễ. Thật vậy, trong nghi thức sám hối và sau lời mời cầu nguyện, mỗi người hồi tâm lại; sau bài đọc và bài diễn giảng, mỗi người suy gẫm vắn tắt về những gì  đã nghe; còn sau khi hiệp lễ thì ca ngợi và cầu xin Chúa trong lòng.

Trước khi cử hành, rất nên giữ thinh lặng trong thánh đường, trong phòng thánh và những nơi kế cận để mọi người dọn mình cách sốt sắng tham dự các lễ nghi thánh.

III.  TỪNG PHẦN CỦA THÁNH LỄ

A. Nghi thức đầu lễ

46. Các nghi thức trước phụng vụ Lời Chúa, tức là ca nhập lễ, lời chào, nghi thức sám hối, kinh Lạy Chúa, xin thương xót, kinh Vinh Danh và lời nguyện nhập lễ đều có tính cách mởđầu, dẫn nhập và chuẩn bị.

Mục đích các nghi thức này là giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau và chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành Thánh Lễ cho xứng đáng.

Trong vài cử hành, được nối kết với Thánh Lễ theo qui tắc của các sách phụng vụ, những nghi thức đầu lễ được bỏ hay được thực hiện một cách đặc biệt.

Ca nhập lễ

47. Khi dân chúng đã tập họp, và đang khi vị tư tế và các người giúp lễ tiến vào, thì bắt đầu hát ca nhập lễ. Bài ca này có mục đích mở đầu việc cử hành Thánh Lễ, giúp giáo dân thêm hiệp nhất, hướng tâm hồn họ vào mầu nhiệm mùa phụng vụ hay ngày lễ và đi kèm với cuộc rước của vị tư tế và các người giúp lễ.

48. Ca nhập lễ được hát như sau: hoặc luân phiên giữa ca đoàn và dân chúng, hoặc luân phiên giữa một ca viên và dân chúng, hoặc tất cả do dân chúng hát, hay do một mình ca đoàn hát mà thôi. Có thể dùng điệp ca cùng với thánh vịnh, ghi trong sách Graduale Romanum hay trong sách Graduale simplex; hoặc dùng bài hát nào khác phù hợp với cử hành phụng vụ, với tính chất của ngày lễ, hay mùa phụng vụ. Bản văn bài hát này phải được Hội Ðồng Giám Mục chuẩn nhận.[lvi] [56]

Nếu không hát ca nhập lễ, thì giáo dân, hoặc một vài người giáo dân hoặc một độc viên, đọc bài ca nhập lễ ghi trong Sách Lễ. Nếu không có ai đọc, thì chính vị tư tế đọc, và ngài có thể thích nghi nó theo cách lời khuyên nhủ khởi đầu (x. n. 31).

Chào bàn thờ và cộng đoàn

49. Khi tới cung thánh, vị tư tế, phó tế và các người giúp lễ cúi sâu chào bàn thờ.

Sau đó, để tỏ lòng tôn kính, vị tư tế và thầy phó tế hôn bàn thờ; rồi vị tư tế tuỳ nghi xông hương thánh giá và bàn thờ.

50. Sau ca nhập lễ, vị tư tế, đứng tại ghế, cùng toàn thể cộng đoàn làm dấu thánh giá. Tiếp đó, dùng lời chào mà nói cho cộng đoàn biết là có Chúa hiện diện. Lời chào của vị tư tếvà câu đáp của giáo dân nói lên mầu nhiệm của Hội Thánh đã được quy tụ lại.

Sau khi chào giáo dân xong, vị tư tế hay phó tế, hay một thừa tác viên khác có thể nói ít lời dẫn nhập tín hữu vào Thánh Lễ hôm ấy.

Nghi thức sám hối

51. Tiếp theo, vị tư tế mời?mọi người sám hối. Sau một chút thinh lặng, tất cả cộng đoàn đọc công thức thú tội chung và vị tư tế đọc lời xá giải để kết thúc. Lời xá giải này không có hiệu quả của bí tích thống hối.

Vào ngày Chúa Nhật, nhất là trong Mùa Phục Sinh, thay vì nghi thức thống hối thường lệ, thỉnh thoảng nên làm phép và rảy nước thánh để nhớ lại phép rửa.[lvii] [57]

Lạy Chúa, xin thương xót

52. Sau nghi thức sám hối, là luôn luôn đến kinh "Lạy Chúa, xin thương xót", trừ khi đã dùng kinh này trong nghi thức sám hối. Vì là bài hát giáo dân dùng để tung hô Chúa và kêu cầu lòng thương xót của Người, bài này thường được mọi người hát, nghĩa là dân chúng, ca đoàn hay xướng ca viên, đều góp phần vào đó.

Thường mỗi lời tung hô  được hát hai lần, nhưng vì đặc tính của các ngôn ngữ khác nhau, vì nghệ thuật âm nhạc, hay vì hoàn cảnh, cũng có thể hát nhiều lần. Khi kinh "Lạy Chúa, xin thương xót" được dùng như là phần của nghi thức thống hối, thì trước nó có những câu tung hô riêng.

Kinh Vinh Danh

53. Kinh Vinh Danh là một thánh thi rất cổ kính, mà Hội Thánh, được đoàn tụ trong Chúa Thánh Thần, dùng để tôn vinh Chúa Cha và cầu khẩn Chiên Con. Không được thay đổi bản văn của kinh này bằng một bản văn khác. Vị tư tế hay, tùy nghi, một ca viên hay ca đoàn xướng lên, rồi mọi người cùng hát chung, hay luân phiên giữa giáo dân và ca đoàn, hay chỉca đoàn. Nếu không hát thì phải đọc, hoặc mọi người đọc chung, hoặc chia hai bè  đối đáp.

Kinh này được hát hay đọc trong các Chúa Nhật ngoài Mùa Vọng và Mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các dịp lễ khá long trọng.

Lời nguyện nhập lễ

54. Tiếp đến, vị tư tế mời giáo dân cầu nguyện; và mọi người cùng vị tư tế thinh lặng trong giây lát, để ý thức mình đang ở trước thánh nhan Chúa và có thể gợi lên trong tâm hồn các ước nguyện của mình. Rồi vị tư tế đọc lời nguyện, thường được gọi là lời "tổng nguyện" diễn tả đặc tính của buổi lễ. Theo truyền thống cổ kính của Hội Thánh, lời nguyện thường hướng về Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần[lviii] [58] và câu kết mang nét Ba Ngôi, nghĩa là câu kết dài:

Nếu lời nguyện hướng về Chúa Cha, thì đọc "Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Cha và là Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời";

Nếu lời nguyện hướng về Chúa Cha, nhưng câu cuối có nhắc đến Chúa Con, thì  đọc: "Người hằng sống hằng trị cùng Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời";  

Nếu hướng về Chúa Con, thì  đọc: "Người hằng sống hằng trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời".

Giáo dân chung lòng hợp ý với lời nguyện, tung hô "Amen", để làm cho lời nguyện đó thành của mình.

Trong Thánh Lễ luôn luôn chỉ  đọc một lời nguyện nhập lễ.

B. Phụng vụ Lời Chúa

55. Các bài đọc lấy từ Thánh Kinh, cùng với các bài hát xen giữa, tạo nên phần chính của phụng vụ Lời Chúa; còn bài diễn giảng, kinh Tin Kính và lời nguyện cho mọi người, cũng gọi là lời nguyện tín hữu, khai triển và kết thúc phần này. Qua các bài đọc, được bài diễn giảng giải thích, Thiên Chúa nói với dân Ngài,[lix] [59] Ngài mạc khải mầu nhiệm cứu chuộc vàơn cứu độ, đồng thời cung cấp lương thực thiêng liêng; chính Ðức Kitô dùng lời của mình mà hiện diện giữa các tín hữu.[lx] [60] Nhờ thinh lặng và các bài hát, dân chúng làm cho Lời Chúa thành của mình; nhờ lời tuyên xưng đức tin, họ gắn bó với Lời Chúa; và khi được Lời Chúa nuôi dưỡng, nhờ lời nguyện cho mọi người, họ cầu xin cho các nhu cầu của Hội Thánh và cho cả thế giới được cứu độ.

Thinh lặng

56. Phải cử hành Phụng vụ Lời Chúa thế nào tạo thuận lợi cho việc suy gẫm, vì thế tuyệt đối tránh mọi hình thức vội vã, ngăn trở việc hồi tâm. Nên có những giây phút thinh lặng ngắn, tùy theo cộng đoàn tụ họp, để nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa được tiếp nhận trong tâm hồn và lời đáp trả qua kinh nguyện được chuẩn bị. Những lúc nên giữthinh lặng là sau bài đọc thứ nhất và thứ hai, cũng như sau bài giảng.

Các bài đọc Thánh Kinh

57. Qua các bài đọc, bàn tiệc Lời Chúa được dọn ra cho các tín hữu và các kho tàng Thánh Kinh được mở ra cho họ.[lxi] [61] Các bài đọc Thánh Kinh được sắp xếp để làm sáng tỏtính thống nhất của hai Giao Ước và lịch sử cứu độ. Do đó, không được phép thay thế các bài đọc và thánh vịnh đáp ca chứa đựng Lời Chúa bằng các bản văn ngoài Thánh Kinh.[lxii][62]

58. Trong cử hành Thánh Lễ có giáo dân, các bài đọc luôn luôn được công bố tại giảng đài.

59. Theo truyền thống, việc đọc các bài đọc không phải là nhiệm vụ của vị chủ toạ, mà là của người giúp. Ðộc viên đọc các bài đọc. Thầy phó tế, hay nếu không có phó tế, thì một vịtư tế khác đọc Tin Mừng. Nhưng nếu không có thầy phó tế hay tư tế khác, thì vị tư tế chủ toạ đọc Tin Mừng. Còn nếu không có độc viên xứng đáng nào, thì vị tư tế chủ toạ đọc các bài đọc.

Sau mỗi bài, người đọc xướng câu tung hô, và giáo dân tập họp đáp lại để tôn vinh Lời Chúa được tiếp nhận bằng đức tin và lòng tri ân.

60. Bài Tin Mừng là cao điểm của phụng vụ Lời Chúa. Chính phụng vụ dạy ta phải hết lòng tôn kính bài đọc Tin Mừng, vì phụng vụ  đặc biệt đề cao bài Tin Mừng hơn các bài đọc khác, phần thì về phía thừa tác viên được cử ra đọc và dọn mình đọc nhờ phép lành hay lời cầu nguyện, phần thì, về phía giáo dân, họ tung hô để nhìn nhận và tuyên xưng Ðức Kitô đang hiện diện và nói với họ, và họ đứng để nghe Tin Mừng, phần thì do những dấu tỏ lòng trọng kính đối với sách Tin Mừng.

Thánh vịnh đáp ca

61. Sau bài đọc thứ nhất là thánh vịnh đáp ca; bài ca này là thành phần trọn vẹn của phụng vụ Lời Chúa, và có tầm quan trọng lớn về phụng vụ và mục vụ, vì giúp ích cho việc suy gẫm Lời Chúa.

Thánh vịnh đáp ca liên quan trực tiếp đến mỗi bài đọc và thường lấy ở sách Bài Ðọc.

Thánh vịnh đáp ca nên được hát, ít là phần đáp của giáo dân. Do đó, người hát thánh vịnh hát tại giảng đài, hay tại một nơi thuận tiện, đang khi toàn thể cộng đoàn ngồi nghe và thường thường lại còn tham dự bằng những câu đáp, trừ khi thánh vịnh được hát liên tục, không có câu đáp. Tuy nhiên, để dân chúng có thể hát thánh vịnh đáp ca cách dễ dàng hơn, một số bản văn đáp ca và thánh vịnh đã được lựa chọn cho từng mùa trong năm, hoặc cho từng loại thánh nhân, để mỗi khi hát thánh vịnh, có thể dùng các bản văn này thay cho bản văn hợp với bài đọc liên hệ. Nếu không hát thánh vịnh, thì đọc theo cách thích hợp giúp suy gẫm Lời Chúa.

Thay vì thánh vịnh ghi trong sách Bài Ðọc, còn có thể hát ca tiến cấp lấy ở sách Graduale Romanum, hay thánh vịnh đáp ca, hoặc tung hô Alêluia lấy ở sách Graduale simplex, như thấy có ghi trong các sách đó.

Tung hô trước khi đọc Tin Mừng

62. Sau bài đọc đi liền trước bài Tin Mừng thì hát Alêluia, hay bài hát khác, theo luật chữ đỏ, như mùa phụng vụ đòi hỏi. Lời tung hô này được thực hiện ở tư thế đứng, vì cộng đoàn tín hữu chào đón Chúa sẽ nói với mình trong Tin Mừng và biểu lộ đức tin bằng bài ca. Mọi người đứng cùng hát, được ca đoàn hoặc một ca viên khởi xướng, hoặc lặp lại câu ca đoàn hay một ca viên đã hát.

a. Alêluia được hát trong các mùa ngoài Mùa Chay. Câu thì lấy ở sách Bài Ðọc, hay sách Graduale.

b. Trong Mùa Chay, thì thay vì Alêluia, hát câu trước Tin Mừng ghi trong sách Bài Ðọc. Cũng có thể hát một thánh vịnh khác cũng gọi là ca liên tục (tractus), như có trong sách hátGraduale.

63. Khi chỉ có một bài đọc trước Tin Mừng thì:

a. Trong mùa phải hát Alêluia, có thể hát hoặc bài thánh vịnh có chữ?Alêluia, hoặc thánh vịnh và Alêluia với câu tung hô.

b. Trong mùa không phải đọc Alêluia, có thể hát thánh vịnh với câu trước Tin Mừng, hoặc chỉ thánh vịnh thôi;

c. Alêluia hay câu trước Tin Mừng, nếu không hát thì có thể bỏ.

64. Ca tiếp liên, ngoài lễ Phục Sinh và lễ Hiện Xuống thì được tùy ý, và  được hát sau Alêluia.

Bài diễn giảng

65. Bài diễn giảng là thành phần của phụng vụ và rất được khuyến khích,[lxiii] [63] vì cần thiết để nuôi dưỡng đời sống kitô hữu. Bài này phải diễn giải hoặc một khía cạnh nào của các bài đọc Thánh Kinh, hoặc một bản văn khác thuộc phần Thường Lễ hay phần Riêng của Thánh Lễ ngày đó, đồng thời lưu ý  đến mầu nhiệm được kính nhớ, hay nhu cầu riêng biệt của thính giả.[lxiv] [64]

66. Người diễn giảng thông thường là chính vị chủ tế hay một trong các vị  đồng tế được vị chủ tế nhờ, hay đôi khi, tuỳ nghi, là phó tế, nhưng không bao giờ là giáo dân.[lxv] [65]Trong những trường hợp đặc biệt và có lý do chính đáng, một Giám Mục hay một linh mục hiện diện trong buổi cử hành mà không đồng tế có thể đảm trách việc giảng.

Phải diễn giảng và không được bỏ, trừ khi có lý do quan trọng, vào các ngày Chúa Nhật và lễ buộc trong mọi Thánh Lễ cử hành có đông giáo dân tham dự; còn các ngày khác cũng nên diễn giảng, nhất là các ngày trong tuần Mùa Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, và trong các lễ khác cũng như các dịp có khá đông giáo dân tập họp ở nhà thờ.[lxvi] [66]

Sau bài giảng, nên giữ  ít phút thinh lặng.

Lời tuyên xưng đức tin

67. Kinh Tin Kính, cũng gọi là lời tuyên xưng đức tin, nhằm làm cho giáo dân tập họp đáp lại Lời Chúa, được loan báo trong các bài đọc và giải thích trong bài diễn giảng, đồng thời khi đọc qui luật đức tin theo công thức chấp thuận dùng trong phụng vụ, họ nhớ lại và tuyên xưng những mầu nhiệm chính của đức tin trước khi bắt đầu cử hành Thánh Thể.

68. Kinh Tin Kính phải do vị tư tế hát hay đọc chung với giáo dân vào các ngày Chúa Nhật và lễ trọng; cũng có thể đọc trong những lễ  đặc biệt khá trọng thể.

Nếu hát, thì vị tư tế hay, tùy nghi, một ca viên, hay ca đoàn xướng, rồi mọi người cùng hát tiếp hay dân chúng và ca đoàn hát luân phiên.

Nếu không hát, thì mọi người cùng đọc hay chia làm hai đối đáp nhau.

Lời nguyện cho mọi người

69. Trong lời nguyện cho mọi người, cũng gọi là lời nguyện tín hữu, chính dân Chúa, sau khi tiếp nhận trong đức tin, đáp lại Lời Chúa và thực thi chức tư tế do phép rửa của mình mà cầu cho hết mọi người. Lời nguyện này thường nên thực hiện trong các Thánh Lễ có giáo dân tham dự, để họ cầu cho Hội Thánh, cho các nhà cầm quyền, cho những người đang gặp đủ thứ khó khăn, cho hết mọi người và cho toàn thế giới được ơn cứu độ.[lxvii] [67]

70. Thứ tự những ý nguyện thường là:

a. Cho các nhu cầu của Hội Thánh;

b. Cho các người trong chính quyền và cho toàn thế giới được an bình;

c. Cho các người đang gặp bất cứ khó khăn nào;

d. Cho cộng đoàn địa phương.

Nhưng trong một buổi lễ cử hành đặc biệt nào đó, như là Thêm Sức, Hôn Phối, An Táng, thì thứ tự ý nguyện có thể dành ưu tiên cho trường hợp đặc biệt đó.

71. Chính vị chủ tế điều khiển việc cầu nguyện từ ghế. Ngài vắn tắt mời tín hữu cầu nguyện và đọc lời nguyện để kết thúc. Các ý nguyện nêu ra cần phải chừng mực, được soạn thảo với sự tự do khôn ngoan và ngắn gọn, diễn tả lời nguyện của toàn thể cộng đoàn.

Thầy phó tế, hoặc một ca viên, hay độc viên hay một giáo dân khác xướng các ý nguyện từ giảng đài hay một nơi nào khác xứng hợp.[lxviii] [68]

Còn toàn thể cộng đoàn đứng biểu lộ lời nguyện của mình, hoặc bằng những lời kêu cầu chung sau mỗi ý nguyện được xướng lên, hoặc bằng cách cầu nguyện trong thinh lặng.

C. Phụng vụ Thánh Thể

72. Trong Bữa Tối sau hết, Ðức Kitô đã thiết lập hy lễ và bữa tiệc Vượt Qua, nhờ đó hy lễ thập giá được luôn luôn hiện diện trong Hội Thánh khi vị tư tế, đại diện Ðức Kitô là Chúa, cử hành cùng một việc chính Người đã làm và trao cho các môn đệ phải làm, để tưởng nhớ đến Người.[lxix] [69]

Quả thế, Ðức Kitô đã cầm lấy bánh và chén, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ và nói: Các con hãy cầm lấy, hãy ăn, hãy uống; đây là Mình Thầy, đây là chén Máu Thầy. Các con hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy. Do đó, Hội Thánh sắp xếp toàn bộ cử hành Phụng Vụ Thánh Thể và các phần theo các lời nói và hành vi của Chúa Kitô, nghĩa là:

1. Trong phần chuẩn bị lễ phẩm, bánh, rượu và nước được đem tới bàn thờ, tức là những gì Ðức Kitô đã cầm lấy trong tay.

2. Trong kinh Tạ ơn, thì tạ ơn Thiên Chúa về tất cả công trình cứu chuộc và lễ phẩm trở nên Mình và Máu Ðức Kitô.

3. Qua việc bẻ bánh và rước lễ các tín hữu, tuy nhiều, đều lãnh nhận Mình và Máu Chúa từ một tấm bánh cùng một cách như các Tông Ðồ  đã lãnh từ tay của chính Ðức Kitô.

Chuẩn bị lễ phẩm

73. Bắt đầu phụng vụ Thánh Thể, thì đưa lên bàn thờ các lễ phẩm sẽ trở thành Mình và Máu Ðức Kitô.

Trước hết để sửa soạn bàn thờ, cũng gọi là bàn tiệc của Chúa, là trung tâm điểm của toàn bộ phụng vụ Thánh Thể,[lxx] [70] thì  đặt trên bàn thờ khăn thánh, khăn lau chén, Sách Lễ và chén lễ, trừ khi chén lễ được dọn ở bàn phụ.

Tiếp đến là đem lễ phẩm lên: nên để giáo dân đem bánh và rượu, vị tư tế hay thầy phó tế nhận tại một nơi thuận tiện, và  đưa lên bàn thờ. Mặc dầu ngày nay giáo dân không còn mang bánh rượu của mình đến để dùng vào việc phụng vụ như xưa, nhưng nghi thức dâng lễ phẩm vẫn giữ hiệu lực và ý nghĩa thiêng liêng.

Cũng được nhận tiền bạc hay các phẩm vật khác, do tín hữu mang đến hay được quyên ngay trong nhà thờ để giúp người nghèo hay nhà thờ; những phẩm vật này được đặt ở một nơi xứng hợp ngoài bàn thờ.

74. Khi rước lễ phẩm lên, thì hát ca tiến lễ (x. n. 37, b) và kéo dài bài hát ít là cho tới khi đặt lễ phẩm trên bàn thờ. Quy luật về cách hát ca tiến lễ cũng giống như cách hát ca nhập lễ (x. n. 48). Bài hát có thể luôn luôn đi theo nghi thức tiến dâng.

75. Bánh và rượu được linh mục đặt trên bàn thờ cùng với các công thức ấn định. Vị tư tế có thể xông hương lễ phẩm đặt trên bàn thờ, sau đó thánh giá và chính bàn thờ, để nói lên rằng lễ phẩm và lời nguyện của Hội Thánh ví như hương trầm bay lên trước thánh nhan Chúa. Sau đó, vị tư tế, vì thừa tác vụ thánh, và giáo dân, vì phẩm giá phép rửa, có thểđược thầy phó tế hay người giúp lễ nào khác xông hương.

76. Sau đó, vị tư tế rửa tay bên cạnh bàn thờ: nghi thức này biểu lộ lòng ước ao được thanh tẩy trong tâm hồn.

Lời nguyện tiến lễ

77. Sau khi đặt lễ phẩm trên bàn thờ, với các nghi thức kèm theo, vị tư tế mời giáo dân cùng với mình cầu nguyện, rồi đọc lời nguyện tiến lễ để kết thúc phần chuẩn bị lễ phẩm và sửa soạn đọc kinh Tạ Ơn.

Trong Thánh Lễ chỉ đọc một lời nguyện tiến lễ với câu kết ngắn, nghĩa là "Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con", hay nếu câu kết có nhắc đến Chúa Con, thì "Người hằng sống hằng trịmuôn đời".

Kinh Tạ  Ơn

78. Bây giờ bắt đầu điểm trung tâm và cao nhất của toàn bộ việc cử hành nghĩa là chính kinh Tạ Ơn, gồm việc tạ ơn và thánh hoá. Vị tư tế mời giáo dân hướng tâm hồn lên để cầu nguyện và tạ ơn Chúa; đồng thời liên kết họ với mình trong lời cầu nguyện, để nhân danh tất cả cộng đoàn dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha, qua Ðức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. Ý nghĩa của lời cầu nguyện này là toàn thể cộng đoàn tín hữu kết hiệp với Ðức Kitô mà tuyên xưng những kỳ công của Thiên Chúa và hiến dâng hy lễ.

79. Những yếu tố chính tạo nên kinh Tạ Ơn có thể phân ra như sau:

a. Việc tạ ơn (đặc biệt được nêu rõ trong lời tiền tụng) khi vị tư tế nhân danh toàn thể dân thánh mà tán tụng Chúa Cha và cảm tạ Ngài về tất cả công trình cứu chuộc, hoặc về lý do nào đặc biệt, tuỳ ngày, tùy lễ, tùy mùa khác nhau.

b. Việc tung hô: toàn thể cộng đoàn hợp cùng các thần thánh trên trời, hát "Thánh, Thánh, Thánh". Lời tung hô này là thành phần của chính kinh Tạ Ơn, nên cả giáo dân và vị tư tếcùng hát.

c. Kinh cầu xin Chúa Thánh Thần (epiclesis): Hội Thánh đặc biệt kêu cầu Chúa Thánh Thần dùng quyền năng để hiến thánh các lễ phẩm do loài người dâng tiến, nghĩa là làm cho trởthành Mình và Máu Ðức Kitô, và để của lễ tinh tuyền được rước lấy trong khi hiệp lễ, đem lại ơn cứu độ cho những ai lãnh nhận.

d. Phần tường thuật việc lập bí tích Thánh thể và phần hiến thánh: hy lễ  được thực hiện nhờ lời nói và việc làm của Ðức Kitô, hy lễ do chính Ðức Kitô đã thiết lập trong bữa tối sau hết, khi dâng tiến Mình và Máu Người dưới hình bánh và hình rượu, khi ban cho các Tông Ðồ để ăn và uống, và khi truyền cho các ngài phải làm cho mầu nhiệm này tồn tại mãi.

e. Tưởng niệm (anamnesis): nhờ việc tưởng niệm, khi thi hành mệnh lệnh đã lãnh nhận từ Ðức Kitô qua các Tông Ðồ, Hội Thánh tưởng niệm chính Ðức Kitô, nhất là nhắc lại cuộc khổ hình hồng phúc, sự sống lại vinh hiển và lên trời của Người.

f. Dâng tiến: nhờ việc dâng tiến trong chính cuộc tưởng niệm này, Hội Thánh, và nhất là Hội Thánh tập họp tại đây và trong lúc này, dâng của lễ tinh tuyền lên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần. Hội Thánh có ý cho các tín hữu không những dâng của lễ tinh tuyền, mà còn học cho biết dâng chính mình,[lxxi] [71] và, nhờ Ðức Kitô làm môi giới, mỗi ngày một hiệp nhất hơn với Thiên Chúa và với nhau, để cuối cùng Thiên Chúa là mọi sự trong mọi người.[lxxii] [72]

g. Chuyển cầu: các lời chuyển cầu cho thấy hy lễ Tạ Ơn được cử hành trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh, cả thiên quốc lẫn trần gian, và cho thấy lễ phẩm được dâng tiến đểcầu cho chính Hội Thánh và mọi chi thể, còn sống cũng như đã qua đời, là những chi thể đã được kêu mời thông phần ơn cứu chuộc và ơn cứu độ do Mình và Máu Ðức Kitô đem lại.

h. Vinh tụng ca kết thúc kinh Tạ Ơn: đây là lời chúc vinh Thiên Chúa, được giáo dân tán đồng và kết thúc bằng lời tung hô "Amen".

Nghi thức hiệp lễ

80. Thánh Lễ là bữa tiệc Vượt Qua, vì thế theo lệnh Chúa, các tín hữu đã  được chuẩn bị như nghi thức ấn định, nên rước Mình Máu Thánh Chúa như của ăn thiêng liêng. Việc bẻ bánh và các nghi thức chuần bị khác nhằm đạt điều nói trên và đưa ngay giáo dân đến việc hiệp lễ.

Kinh Lạy Cha

81. Trong kinh Lạy Cha, ta xin Chúa ban bánh hằng ngày, bánh này đối với kitô hữu còn ám chỉ bánh Thánh Thể; lại xin Chúa thanh tẩy tâm hồn cho khỏi mọi tội lỗi, hầu của thánh được thực sự ban cho những người thánh. Vị tư tế đọc lời mời cầu nguyện, rồi hết mọi tín hữu cùng đọc kinh đó với ngài; một mình vị tư tế đọc tiếp kinh khẩn xin (embolismus), và giáo dân kết thúc bằng lời chúc vinh. Kinh khẩn xin khai triển ý nguyện cuối cùng của kinh Lạy Cha, tức là xin cho toàn thể cộng đồng tín hữu được thoát khỏi quyền lực sự dữ.

Lời mời cầu nguyện, chính kinh Lạy Cha, kinh khẩn xin và lời chúc vinh mà giáo dân dùng để kết thúc, được hát hay đọc rõ tiếng.

Nghi thức chúc bình an

82. Tiếp theo là nghi thức chúc bình an: Hội Thánh cầu bình an và hiệp nhất cho chính mình, cho toàn thể gia đình nhân loại, và các tín hữu tỏ bày sự hiệp thông cộng đoàn và lòng thương mến nhau, trước khi rước Thánh Thể.

Các Hội Ðồng Giám Mục sẽ tùy theo tinh thần và phong tục của mỗi dân tộc mà  ấn định cách thức chúc bình an. Mỗi người chỉ nên tỏ dấu trao bình an cách chừng mực cho những người gần mình.

Bẻ bánh

83. Vị tư tế bẻ bánh Thánh Thể. Cử chỉ bẻ bánh, mà Ðức Kitô đã thực hiện trong bữa tối sau hết, đã trở thành tên gọi cho toàn bộ cử hành Tạ Ơn vào thời các Tông Ðồ. Nghi thức này nói lên rằng các tín hữu tuy nhiều, nhưng vì hiệp thông cùng một bánh ban sự sống là Ðức Kitô, Ðấng đã chết và sống lại vì phần rỗi thế gian nên trở thành một thân thể (1 Cr 10,17). Việc bẻ bánh bắt đầu sau khi trao bình an, và phải được thực hiện với lòng tôn kính, tuy nhiên không nên kéo dài quá mức cần thiết cũng như gán cho nó một tầm quan trọng quá đáng. Nghi thức này được dành riêng cho vị tư tế và phó tế.

Ðang khi vị tư tế bẻ bánh và bỏ một phần vào chén thánh thì ca đoàn hay ca viên hát đối đáp hay đọc lớn tiếng kinh "Lạy Chiên Thiên Chúa", và giáo dân đáp lại. Kinh này có thể được lặp đi lặp lại, bao lâu còn cần để kèm theo việc bẻ bánh. Lần cuối cùng được kết thúc bằng câu: "Xin ban bình an cho chúng con".

Hiệp lễ

84. Vị tư tế chuẩn bị mình bằng đọc thầm lời nguyện xin cho rước Mình và Máu Thánh có hiệu quả. Giáo dân thinh lặng cầu nguyện để chuẩn bị.

Sau đó vị tư tế giơ cho các tín hữu thấy bánh Thánh Thể trên đĩa hay trên chén, và mời họ dự tiệc của Ðức Kitô, đồng thời cùng với họ dùng lời Tin Mừng để bày tỏ lòng khiêm nhượng.

85. Như chính vị tư tế buộc phải làm thì ước mong các tín hữu rước Mình Thánh Chúa với những bánh thánh được truyền phép ngay trong chính Thánh Lễ, và trong những trường hợp đã được trù liệu, họ cũng được rước Máu Thánh Chúa (x. n. 283), đe,?nhờ cả những dấu chỉ, họ thấy rõ việc hiệp lễ là tham dự vào hy lễ đang cử hành.[lxxiii] [73]

86. Ðang khi vị tư tế rước lễ, thì bắt đầu hát ca hiệp lễ. Bài ca này có mục đích diễn tả sự đồng tâm hiệp nhất thiêng liêng giữa những người rước lễ, khi họ đồng thanh ca hát, đồng thời biểu lộ niềm vui trong tâm hồn và làm cho việc tiến lên rước Mình Thánh Chúa có tính cách cộng đoàn hơn. Có thể kéo dài hát ca hiệp lễ đang khi giáo dân rước lễ.[lxxiv] [74]Nhưng nếu có hát bài ca nào sau khi rước lễ, thì phải kết thúc bài ca hiệp lễ vào đúng lúc.

Phải liệu cho các ca viên có thể rước lễ cách xứng hợp.

87. Về ca hiệp lễ, có thể dùng điệp ca trong sách Graduale Romanum cùng với thánh vịnh hay không có thánh vịnh, hoặc dùng điệp ca với thánh vịnh trong sách Graduale simplex, hoặc bài hát nào khác thích hợp đã được Hội Ðồng Giám Mục chuẩn nhận. Một mình ca đoàn hát, hoặc ca đoàn hay ca viên hát với giáo dân.

Nếu không hát, thì giáo dân, hoặc một vài giáo dân hay độc viên, đọc ca hiệp lễ ghi trong Sách Lễ. Nếu không có ai khác, thì chính vị tư tế đọc sau khi đã rước lễ, và trước khi cho tín hữu rước lễ.

88. Sau khi cho rước lễ, vị tư tế và giáo dân tùy nghi cầu nguyện trong lòng một khoảng thời gian. Nếu muốn, tất cả cộng đoàn cũng có thể hát một thánh thi, một thánh vịnh hay một bài thánh ca ngợi khen nào khác.

89. Ðể hoàn tất lời nguyện của dân Chúa và để kết thúc toàn bộ nghi thức rước lễ, vị tư tế đọc lời nguyện Hiệp Lễ để cầu xin cho mầu nhiệm đã cử hành được sinh hoa kết quả.

Trong Thánh Lễ chỉ đọc một lời nguyện Hiệp lễ với câu kết ngắn, nghĩa là:  

Nếu hướng về Chúa Cha, thì  đọc: Nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con; 

Nếu hướng về Chúa Cha, nhưng câu cuối có nhắc đến Chúa Con, thì đọc: Người hằng sống hằng trị muôn đời; 

Nếu hướng về Chúa Con, thì  đọc: Người hằng sống hằng trị muôn đời.

Giáo dân tung hô "Amen", để làm cho lời nguyện đó thành của mình.

D. Nghi thức kết thúc

90. Nghi thức kết thúc gồm có:

a. Loan báo ngắn, nếu cần;

b. Chào và ban phép lành: có những ngày và có những trường hợp phép lành này được diễn tả một cách phong phú bằng một lời nguyện trên dân Chúa hay một công thức long trọng hơn;

c. Giải tán cộng đoàn giáo dân do phó tế hay vị tư tế nói;

d. Vị tư tế và phó tế hôn bàn thờ và sau đó các vị này cùng với các thừa tác viên khác cúi mình sâu chào bàn thờ.

Chương III: NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ THỪA TÁC VỤ TRONG THÁNH LỄ

I. NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ THỪA TÁC VỤ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ CHỨC THÁNH

II. PHẬN SỰ CỦA DÂN CHÚA

III. NHỮNG THỪA TÁC VỤ RIÊNG BIỆT

Thừa tác vụ giúp lễ và  đọc sách

Những nhiệm vụ khác

IV. PHÂN PHỐI PHẦN VỤ VÀ CHUẨN BỊ CỬ HÀNH 

91. Cử hành lễ Tạ Ơn là hành động của Chúa Kitô và Hội Thánh. Hội Thánh là "bí tích hiệp nhất", nghĩa là dân thánh được qui tụ và có thứ tự dưới quyền Giám Mục. Vì thế, việc cửhành liên quan đến toàn thể Thân Thể Hội Thánh, cùng biểu lộ và làm nên Thân Thể này, cũng như liên quan đến mỗi chi thể bằng nhiều cách khác nhau tuỳ theo sự khác biệt của chức thánh, phần việc và sự tham dự hiện tại.[lxxv] [75] Qua cách thức ấy, dân kitô, "dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, chủng tộc thánh thiện, dân được thủ đắc", bày tỏ tính cách trật tự liên kết và có phẩm trật của mình.[lxxvi] [76] Nên khi lo phần việc của mình, hết mọi người, thừa tác viên có chức thánh cũng như giáo dân, chỉ làm và làm trọn công việc thuộc về mình.[lxxvii] [77]

I. NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ THỪA TÁC VỤ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ CHỨC THÁNH

92. Mọi cử hành Thánh Thể hợp pháp đều do Giám Mục chủ trì, hoặc trực tiếp hoặc do trung gian các linh mục là những trợ tá của ngài.[lxxviii] [78]

Khi Giám Mục hiện diện trong Thánh Lễ có giáo dân tham dự, chính ngài nên chủ toạ buổi lễ, và liên kết các linh mục đồng tế với ngài trong việc cử hành thánh. Ðiều này không nhằm làm tăng phần long trọng bề ngoài cho nghi thức, nhưng nhằm làm sáng tỏ mầu nhiệm Hội Thánh là bí tích hợp nhất.[lxxix] [79]

Còn nếu Giám Mục không cử hành Thánh Lễ và để cho người khác cử hành, chính ngài nên mang thánh giá ngực, dây stola và áo choàng trên áo alba, chủ toạ phần phụng vụ Lời Chúa và ban phép lành cuối lễ.[lxxx] [80]

93. Là người trong Hội Thánh có quyền thánh chức để dâng hy lễ nhân danh Ðức Kitô,[lxxxi] [81] bởi đó có quyền chủ toạ cộng đoàn được quy tụ, linh mục điều khiển kinh nguyện, công bố Tin Mừng cứu độ, liên kết giáo dân với ngài để dâng hy lễ lên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần, trao cho anh em mình bánh hằng sống và cùng hiệp lễ với họ. Vậy khi cử hành Thánh Lễ, ngài phải phục vụ Thiên Chúa và giáo dân cách trang nghiêm và khiêm tốn; trong cách cử hành và đọc Lời Chúa, ngài còn phải cho giáo dân cảm thấy sự hiện diện sống động của Ðức Kitô.

94. Sau linh mục, thầy phó tế, do chức thánh đã lãnh nhận, chiếm địa vị cao nhất trong số những người giúp vào việc cử hành Thánh Lễ. Chức thánh phó tế được tôn trọng trong Hội Thánh ngay từ thời đầu các Tông Ðồ.[lxxxii] [82] Trong Thánh Lễ, thầy phó tế giữ những phần việc riêng biệt trong việc công bố Tin Mừng và đôi khi diễn giảng Lời Chúa, xướng các ý nguyện trong lời nguyện cho mọi người, giúp vị tư tế khi chuẩn bị bàn thờ và phục vụ việc cử hành hy tế, cho giáo dân rước lễ, nhất là dưới hình rượu, và thỉnh thoảng hướng dẫn cử chỉ và điệu bộ của toàn thể cộng đoàn.

II. PHẬN SỰ CỦA DÂN CHÚA

95. Trong khi cử hành Thánh Lễ, các tín hữu hợp thành dân thánh, dân đắc hữu, hoàng tộc chuyên lo tế tự, để tạ ơn Thiên Chúa, dâng lên Ngài lễ phẩm tinh tuyền, không những nhờ tay vị tư tế, nhưng còn cùng với ngài, và để học cho biết dâng chính mình nữa.[lxxxiii] [83] Họ phải chú tâm biểu lộ những điều ấy nhờ một tinh thần đạo đức sâu xa và nhờ đức bác ái đối với các anh chị em cùng tham dự Thánh Lễ.

Cho nên, họ phải tránh mọi hình thức sống cá nhân và riêng rẽ; họ phải nhớ rằng họ chỉ có một Cha ở trên trời và như vậy mọi người đều là anh chị em với nhau.

96. Họ phải hợp thành một thân thể, nhờ việc nghe Lời Chúa, hoặc tham dự việc cầu nguyện và ca hát, nhất là nhờ việc cùng nhau dâng hy lễ và cùng tham dự bàn tiệc của Chúa. Sự hợp nhất này được biểu lộ cách tốt nhất trong những cử chỉ và điệu bộ, mà mọi tín hữu cùng có như nhau.

97. Các tín hữu sẽ không từ chối phục vụ dân Chúa cách vui tươi, mỗi khi được yêu cầu thi hành một thừa tác vụ đặc biệt nào trong Thánh Lễ.

III. NHỮNG THỪA TÁC VỤ RIÊNG BIỆT

Thừa tác vụ giúp lễ và đọc sách

98. Thầy giúp lễ lãnh tác vụ để phục vụ bàn thờ, giúp vị tư tế và thầy phó tế. Công việc chính của thầy là chuẩn bị bàn thờ và các bình thánh; thầy còn là thừa tác viên ngoại lệ cho giáo dân rước lễ.[lxxxiv] [84]

Trong việc giúp bàn thờ, thầy giúp lễ có những phần vụ riêng (x. nn. 187193) mà thầy phải thi hành.

99. Thầy đọc sách lãnh tác vụ để đọc các bài đọc Thánh Kinh, trừ bài Tin Mừng. Thầy cũng có thể xướng các ý nguyện trong lời nguyện cho mọi người, và, khi không có ca viên, thầy cũng có thể đọc thánh vịnh giữa các bài đọc.

Thầy đọc sách có phần việc riêng trong Thánh Lễ (x. nn. 194198), mà chính thầy phải làm, dù những thừa tác viên chức thánh có mặt.

Những nhiệm vụ khác

100. Nếu không có thầy giúp lễ, các thừa tác viên giáo dân có thể phục vụ bàn thờ và giúp vị tư tế và phó tế. Họ mang thánh giá, nến, hương, bánh, rượu, nước, và ngay cả được cử cho giáo dân rước lễ với tính cách thừa tác viên ngoại thường.[lxxxv] [85]

101. Nếu không có thầy đọc sách, các giáo dân khác có thể được cử để  đọc các bài Thánh Kinh. Họ phải có khả năng để chu toàn nhiệm vụ này và được chuẩn bị cẩn thận, để tín hữu khi nghe đọc sách thánh thì trong lòng nhận được tác động êm dịu và sống động của Thánh Kinh.[lxxxvi] [86]

102. Người xướng thánh vịnh có nhiệm vụ đọc hoặc hát thánh vịnh hay thánh ca Thánh Kinh nào khác, xen vào giữa các bài đọc. Ðể  chu toàn phần việc của mình, người xướng thánh vịnh cần có nghệ thuật đọc thánh vịnh, có khả năng phát âm và đọc cho đúng.

103. Giữa các tín hữu, ca đoàn có phần việc của họ trong phụng vụ, họ phải lo chu toàn các phần việc riêng của họ, tùy theo các loại bài hát khác nhau; họ lại phải giúp cho giáo dân tham dự cách linh động vào việc ca hát.[lxxxvii] [87] Những điều vừa nói về ca đoàn cũng có giá trị đối với các nhạc công, nhất là đối với người sử dụng phong cầm.

104. Nên có ca viên hay ca trưởng để điều khiển và yểm trợ giáo dân khi họ hát. Hơn nữa, nếu không có ca đoàn, ca viên sẽ điều khiển các bài hát, còn giáo dân sẽ tuỳ phần việc của mình mà tham dự.[lxxxviii] [88]

105. Những người sau đây cũng có phần việc phụng vụ:

a. Người giữ phòng thánh sửa soạn tử tế các sách phụng vụ, đồ dùng và những gì cần thiết cho cử hành Thánh Lễ.

b. Người dẫn lễ là người cắt nghĩa và hướng dẫn để đưa giáo dân vào Thánh Lễ và giúp họ hiểu Thánh Lễ hơn. Những lời hướng dẫn của người dẫn lễ phải được sửa soạn trước và phải vắn tắt rõ ràng. Trong khi lo phần việc của mình, người dẫn lễ sẽ đứng ở nơi thuận tiện, trước mặt giáo dân, nhưng không nên đứng ở giảng đài.

c. Những người quyên tiền trong nhà thờ.

d. Trong một vài miền, còn có những người đón tiếp giáo dân ở cửa nhà thờ, dẫn họ vào chỗ xứng hợp và xếp đặt việc di chuyển của họ.

106. Nên có một người thông thạo hay trưởng nghi, nhất là trong các nhà thờ chánh toà và nhà thờ lớn, để lo liệu cho các tác động phụng vụ được xếp đặt cách thích đáng và được các thừa tác viên chức thánh và giáo dân thực hiện cách trang nghiêm, trật tự và đạo đức.

107. Những phần việc phụng vụ không thuộc riêng của vị tư tế và phó tế, và những người đã nói trên (nn. 100106), có thể được trao cho vài giáo dân có khả năng do cha xứ hay vịquản trị nhà thờ chỉ định. Họ có thể nhận việc bằng một chúc lành phụng vụ hay một đề cử tạm thời. Riêng việc giúp vị tư tế nơi bàn thờ thì họ phải có những điều kiện do Giám Mục giáo phận đưa ra.

IV. PHÂN PHỐI PHẦN VỤ VÀ CHUẨN BỊ CỬ HÀNH

108. Chỉ một vị tư tế và cùng vị đó phải thi hành nhiệm vụ chủ toạ từ  đầu đến cuối, trừ phần dành cho Giám Mục khi có ngài tham dự (x. trên n. 92).

109. Nếu có nhiều người có thể thi hành cùng một tác vụ, thì họ được phép chia nhau phần việc mà làm. Ví dụ: thầy phó tế này phụ trách các phần hát, thầy phó tế kia phụ trách công việc bàn thờ. Nếu có nhiều bài đọc, thì nên chia cho nhiều độc viên v.v... Không nên chia một yếu tố cử hành duy nhất ra cho nhiều người, ví dụ: hai người kế tiếp nhau cùng đọc một bài, trừ bài Thương Khó.

110. Nếu trong Thánh Lễ có giáo dân tham dự chỉ có một thừa tác viên, thì người này có thể thi hành nhiều phần việc khác nhau.

111. Mọi người có trách nhiệm, hoặc về nghi thức, hoặc về mục vụ và âm nhạc, phải đồng tâm nhất trí với nhau để theo các sách phụng vu[lxxxix] [89] ?mà chuẩn bị cho cuộc cửhành phụng vụ đạt hiệu quả, dưới sự điều khiển của vị quản thủ thánh đường. Trong những gì trực tiếp liên quan đến giáo dân, cũng phải nghe ý kiến của họ. Tuy nhiên, vị chủ sự cửhành, luôn luôn có quyền sắp xếp những gì thuộc thẩm quyền ngài. 

Chương IV: NHỮNG HÌNH THỨC CỬ HÀNH THÁNH LỄ 

I. THÁNH LỄ CÓ GIÁO DÂN THAM DỰ

Những gì cần phải sửa soạn

A. Thánh lễ không có phó tế

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Nghi thức kết thúc

B. Thánh lễ có Thầy Phó Tế

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Nghi thức kết thúc

C. Những phần việc của thầy giúp lễ

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Thánh Thể

D. Những phần việc của thầy đọc sách

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

II. THÁNH LỄ ÐỒNG TẾ

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Cách thức đọc Lời Nguyện Thánh thể

Kinh Nguyện Thánh Thể I, hay Lễ Qui Rôma

Kinh Nguyện Thánh Thể II

Kinh Nguyện Thánh Thể III

Kinh Nguyện Thánh thể IV

Nghi thức hiệp lễ

Nghi thức kết thúc

III. THÁNH LỄ CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI GIÚP

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Nghi thức kết thúc

IV. VÀI QUI LUẬT CHUNG CHO MỌI HÌNH THỨC THÁNH LỄ

Việc tôn kính bàn thờ và sách Tin Mừng

Bái gối và cúi

Việc xông hương

Việc tráng chén

Việc hiệp lễ dưới hai hình  

112. Trong Giáo Hội địa phương, theo đúng ý nghĩa, địa vị quan trọng nhất phải dành cho Thánh Lễ do Ðức Giám Mục chủ sự, giữa hàng linh mục của ngài, phó tế với các thừa tác viên[xc] [90] và có dân thánh của Thiên Chúa tham dự cách đầy đủ và linh động. Quả thật, tại đó Hội Thánh được biểu lộ cách đặc biệt hơn cả.

Trong Thánh Lễ do Giám mục cử hành, cũng như Giám mục hiện diện mà không cử hành, phải theo những quy tắc ghi trong sách Nghi Thức Giám Mục.[xci] [91]

113. Cũng phải coi trọng Thánh Lễ cử hành giữa một cộng đồng, nhất là cộng đồng giáo xứ, vì cộng đồng tượng trưng cho Hội Thánh phổ quát, ở một thời gian và không gian nhất định, đặc biệt trong lễ cộng đồng ngày Chúa Nhật.[xcii] [92]

114. Trong các Thánh Lễ cử hành tại một số cộng đồng thì Thánh Lễ tu viện, thành phần của thần vụ hằng ngày, hoặc Thánh Lễ quen gọi là Thánh Lễ "cộng đồng", chiếm địa vị  đặc biệt. Mặc dù các Thánh Lễ này không có hình thức cử hành khác biệt, nhưng cũng rất nên hát trong Thánh Lễ, và nhất là nên có sự tham dự đầy đủ của mọi thành viên trong cộng đồng tu sĩ hoặc kinh sĩ. Trong các Thánh Lễ đó, mỗi người sẽ thi hành phận vụ của mình theo chức thánh hoặc thừa tác vụ đã lãnh nhận. Mọi tư tế khi không phải làm lễ riêng cho giáo dân vì lý do mục vụ, nên đồng tế trong các Thánh Lễ đó, mỗi khi có thể được. Vả lại tất cả các tư tế thuộc cộng đồng ấy, mà ích lợi mục vụ buộc phải làm lễ riêng cho giáo dân, cũng có thể đồng tế trong Thánh Lễ tu viện hay Thánh Lễ cộng đồng cùng ngày.[xciii] [93] Các linh mục hiện diện trong cử hành Thánh Thể, nếu không vì lý do chính đáng mà vắng mặt, nên thi hành phận vụ theo chức thánh mình, và do đó mặc phẩm phục mà tham dự vào đồng tế.

I. THÁNH LỄ CÓ GIÁO DÂN THAM DỰ

115. Thánh Lễ với giáo dân được hiểu là Thánh Lễ được cử hành khi có giáo dân tham dự. Chừng nào có thể nên hát và nên có một số người giúp lễ tương xứng khi cử hành Thánh Lễ này, đặc biệt các ngày Chúa Nhật và lễ buộc;[xciv] [94] nhưng cũng có thể cử hành Thánh Lễ mà không hát và chỉ có một người giúp lễ

116. Trong bất cứ cử hành Thánh Lễ nào, nếu có thầy Phó tế, thì thầy chu toàn phận vụ mình. Cũng nên có người giúp lễ, người đọc sách và ca viên. Nghi thức trình bày sau đây dựliệu trường hợp có số thừa tác viên khá đông. 

Những gì cần phải sửa soạn

117. Phải có ít là một khăn trải màu trắng trên bàn thờ. Trong mọi cử hành, trên bàn thờ hoặc gần bàn thờ, phải đặt hai, hoặc bốn, hoặc sáu chân nến, có nến thắp; nếu Giám Mục giáo phận cử hành Thánh Lễ, thì đặt bảy chân nến. Ðàng khác, trên bàn thờ hay gần bàn thờ phải đặt thánh giá có hình Chúa chịu nạn. Có thể mang theo chân nến và thánh giá có hình Chúa chịu nạn khi rước chủ tế vào hành lễ. Trên bàn thờ, có thể đặt sẵn một sách Tin Mừng khác với sách Bài Ðọc, trừ khi sách Tin Mừng này được mang theo khi rước chủ tếvào hành lễ.

118. Cũng phải dọn sẵn:

a. Gần ghế vị tư tế: Sách Lễ và tập sách hát, nếu cần.

b. Trên giảng đài: sách bài đọc;

c. Trên bàn phụ: chén lễ, khăn thánh, khăn lau chén, và tùy nghi, tấm đậy chén, đĩa thánh và nếu cần các bình thánh; bánh lễ cho linh mục, các thừa tác viên và giáo dân rước lễ, bình nước và bình rượu, trừ khi giáo dân đưa lên tất cả các vật này lúc dâng lễ, bình nước thánh, nếu có rảy; đĩa hứng khi cho giáo dân rước lễ, và tất cả những gì cần thiết để rửa tay.

Chén thánh nên có khăn phủ, và khăn phủ này có thể là màu trắng hay màu ngày lễ.

119. Trong phòng mặc áo, sẽ tùy hình thức Thánh Lễ cử hành mà dọn phẩm phục cho vị tư tế, phó tế và các thừa tác viên:

a. Cho vị tư tế: áo trắng dài (alba), dây các phép (stola) và áo lễ(casula) hoặc áo choàng;

b. Cho thầy phó tế: áo trắng dài, dây các phép và áo phó tế; có thể bỏ áo này khi cần hoặc khi bậc lễ không long trọng mấy;

c. Cho các thừa tác viên: áo trắng dài hoặc những áo khác đã được chuẩn nhận.[xcv] [95]

Tất cả những ai sử dụng áo trắng dài, thì cũng dùng dây lưng và khăn vai, trừ khi hình dáng áo trắng dài không cần đến.

Khi có rước lúc nhập lễ, phải chuẩn vị sách Tin Mừng; vào những ngày Chúa Nhật và lễ trọng thì chuẩn bị thêm bình hương và hương, nếu có xông hương, thánh giá cầm khi đi rước, chân nến có gắn nến. 

A. Thánh lễ không có phó tế

Nghi thức đầu lễ

120. Khi giáo dân đã tập hợp, vị tư tế và các thừa tác viên mặc phẩm phục tiến tới bàn thờ theo thứ tự sau đây:

a. Người mang bình hương có  đốt hương sẵn, nếu có xông hương;

b. Các thừa tác viên cầm nến và thầy giúp lễ hay một thừa tác viên khác cầm thánh giá đi giữa họ;

c. Các thầy giúp lễ và các thừa tác viên khác;

d. Thầy đọc sách, thầy này có thể mang sách Tin Mừng, chứ không phải sách Bài Ðọc, nâng cao lên một chút;

e. Vị chủ tế.

Nếu có xông hương, linh mục sẽ bỏ hương trước khi đi rước, chúc lành bằng dấu thánh giá, mà không nói chi hết.

121. Ðang khi đoàn rước tiến lên bàn thờ, ca đoàn hát ca nhập lễ.

122. Khi tới bàn thờ, vị tư tế và các thừa tác viên cúi mình sâu.

Nếu có mang thánh giá có hình Chúa chịu nạn trong khi đi rước, thì đặt thánh giá gần bàn thờ để thành thánh giá bàn thờ. Chỉ  để một thánh giá thôi, nên nếu có rồi thì đem thánh giá đi rước cất đi. Ðèn thì đặt trên bàn thờ hay bên cạnh; sách Tin Mừng, thì đặt trên bàn thờ.

123. Vị tư tế tiến lên hôn bàn thờ, rồi tùy nghi, xông hương thánh giá và chung quanh bàn thờ.

124. Sau đó, vị tư tế tới ghế. Khi hát xong ca nhập lễ, mọi người vẫn đứng, vị tư tế và giáo dân làm dấu thánh giá. Vị tư tế đọc: "Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Giáo dân thưa: Amen.

Rồi vị tư tế hướng về giáo dân , dang tay, dùng một trong các công thức đã soạn sẵn mà chào họ. Sau đó, chính vị tư tế hay một thừa tác viên khác nói một vài lời vắn tắt dẫn giáo dân vào Thánh Lễ ngày hôm ấy.

125. Tiếp theo là nghi thức sám hối, rồi hát hoặc đọc kinh "Lạy Chúa, xin thương xót", theo luật chữ đỏ (x. n. 52).

126. Khi luật đòi hỏi thì hát hoặc đọc Kinh "Vinh danh" (x. n. 53).

127. Tiếp đó, linh mục mời giáo dân cầu nguyện, bằng cách chắp tay đọc: "Chúng ta dâng lời cầu nguyện". Và mọi người cùng với vị tư tế thinh lặng cầu nguyện trong giây lát. Ðoạn vị tư tế dang tay đọc lời nguyện nhập lễ; đọc xong, giáo dân tung hô: "Amen". 

Phụng vụ Lời Chúa

128. Dứt lời nguyện nhập lễ, mọi người ngồi xuống. Vị tư tế có thể nói vắn tắt dẫn tín hữu vào phụng vụ Lời Chúa. Ðộc viên tới giảng đài và đọc bài đọc thứ nhất từ sách Bài Ðọc đã để sẵn trước Thánh Lễ, mọi người ngồi nghe, và đến cuối thì nói to: "Ðó là Lời Chúa", mọi người đáp lại: "Tạ ơn Chúa".

Có thể tùy nghi giữ một chút thinh lặng, để mọi người suy gẫm giây lát những lời vừa nghe.

129. Sau bài đọc, người hát thánh vịnh hay chính độc viên, xướng thánh vịnh và dân chúng đọc câu đáp.

130. Nếu có bài đọc thứ hai trước bài Tin Mừng, thì độc viên cũng đọc tại giảng đài như trên, mọi người ngồi nghe và đến cuối thì tung hô, như nói trên (n. 128). Sau đó tùy nghi giữ một chút thinh lặng.

131. Tiếp đến mọi người đứng dậy và hát Alêluia, hoặc bài ca nào khác, tùy mùa phụng vụ đòi hỏi (x. nn. 6264).

132. Trong khi hát Alêluia, hoặc bài ca nào khác, vị tư tế bỏ hương, ban phép lành, nếu có xông hương. Rồi vị tư tế chắp tay, cúi mình sâu trước bàn thờ, đọc thầm: "Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy tâm hồn".

133. Rồi, vị tư tế cầm lấy sách Tin Mừng, nâng lên một chút, nếu sách đó đặt trên bàn thờ, tiến đến giảng đài, có những thừa tác viên đi trước. Những người này có thể mang bình hương và nến, đứng hướng về giảng đài, tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với Tin Mừng Chúa Kitô.

134. Tại giảng đài, vị tư tế mở sách và chắp tay đọc: "Chúa ở cùng anh chị em", dân chúng đáp: "Và ở cùng Cha", vị tư tế đọc tiếp: "Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô...", đưa ngón tay cái làm dấu trên sách và trên mình, nơi trán, miệng và ngực, mọi người khác cũng làm như thế. Dân chúng tung hô nói: "Lạy Chúa, vinh danh Chúa". Rồi vị tư tế xông hương sách Tin Mừng, nếu có xông hương (x. nn. 277278). Sau đó, vị tư tế công bố bài Tin Mừng, và cuối bài thì tung hô: "Ðó là Lời Chúa", dân chúng đáp: "Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa". Vị tưtế hôn sách và đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc".

135. Nếu không có độc viên, chính vị tư tế sẽ đứng tại giảng đài đọc các bài đọc, và thánh vịnh. Nếu có xông hương, thì cũng tại đó, ngài bỏ hương và cúi mình sâu đọc kinh "Lạy Thiên Chúa toàn năng..."

136. Vị tư tế đứng tại ghế hay giảng đài, hay nơi nào khác xứng hợp, diễn giảng; giảng xong giữ một chút thinh lặng.

137. Vị tư tế đọc hay hát kinh Tin Kính chung với giáo dân, mọi người đứng. Khi tới câu: "Bởi phép Chúa Thánh Thần..", mọi người đều cúi mình sâu; nhưng trong lễ Truyền Tin và lễ Giáng Sinh, thì mọi người quỳ gối.

138. Xong kinh Tin Kính, vị tư tế đứng tại ghế, chắp tay, nói vắn tắt mời tin hữu cầu nguyện cho mọi người. Sau đó, phó tế, hay ca viên hay độc viên hay một người khác hướng vềdân chúng đọc những ý nguyện từ giảng đài hay một nơi khác xứng đáng. Về phần mình, dân chúng đáp lại bằng lời cầu khẩn. Sau đó, vị tư tế dang tay đọc lời nguyện kết thúc. 

Phụng vụ Thánh Thể

139. Sau lời nguyện cho mọi người, mọi người ngồi và bắt đầu hát ca tiến lễ (x. n. 74), nếu có rước lễ phẩm.

Thầy giúp lễ hay một thừa tác viên giáo dân khác đem khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và Sách Lễ đặt trên bàn thờ.

140. Nên để cho các tín hữu biểu lộ sự tham dự bằng việc tiến dâng bánh và rượu dùng vào việc tế lễ, hoặc những phẩm vật dùng để đáp ứng các nhu cầu của thánh đường và cứu trợ người nghèo.

Vị tư tế, với sự trợ giúp của thầy giúp lễ hay một thừa tác viên khác, nhận lãnh các phẩm vật giáo dân dâng tiến. Bánh và rượu dùng trong Thánh Lễ, thì đem đặt trên bàn thờ, những phẩm vật khác thì đem để vào nơi thích hợp.

141. Tại bàn thờ, vị tư tế tiếp nhận đĩa thánh có bánh; rồi hai tay cầm đĩa, nâng lên cao một chút, mà đọc thầm: "Lạy Chúa, chúc tụng Chúa". Ðoạn đặt đĩa có bánh trên khănthánh.

142. Sau đó, người giúp lễ trao các bình rượu, nước cho vị tư tế đứng phía cạnh bàn thờ, vị tư tế rót rượu và một chút nước vào chén thánh, đọc thầm: "Nhờ mầu nhiệm nước". Trởlại giữa bàn thờ, vị tư tế hai tay cầm chén, nâng cao một chút mà đọc nhỏ tiếng: "Lạy Chúa, chúc tụng Chúa", rồi đặt chén trên khăn thánh và tùy nghi đậy tấm che.

Nếu không hát khi dâng tiến lễ phẩm hay không chơi đờn, thì vị tư tế được phép, khi dâng tiến bánh và rượu, đọc to tiếng những công thức chúc tụng, và giáo dân tung hô: "Chúc tụng Thiên Chúa đến muôn đời".

143. Sau khi đặt chén trên bàn thờ, vị tư tế cúi mình đọc thầm kinh: "Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin thương nhận chúng con...".

144. Tiếp đó, nếu có xông hượng, vị tư tế bỏ hương và xông hương của lễ, thánh giá và bàn thờ; còn người giúp lễ, đứng bên cạnh bàn thờ, xông hương vị tư tế, rồi sau đó, giáo dân.

145. Sau kinh "Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin thương nhận chúng con..." hoặc sau khi xông hương, vị tư tế đứng bên cạnh bàn thờ  để rửa tay và đọc thầm: "Lạy Chúa, xin tẩy rửa con", đang khi người giúp lễ đổ nước.

146. Trở lại giữa bàn thờ, vị tư tế đứng hướng về giáo dân, dang tay ra, rồi chắp lại, mời gọi họ cầu nguyện, mà rằng: "Anh chị em hãy cầu nguyện...". Giáo dân đứng lên và thưa "Xin Chúa nhận lễ vật...". Sau đó, vị tư tế dang tay đọc lời nguyện tiến lễ; cuối lời nguyện, giáo dân tung hô "Amen".

147. Bấy giờ vị tư tế bắt đầu kinh Tạ Ơn. Ngài chọn theo luật chữ đỏ một trong các kinh Tạ Ơn có trong Sách Lễ Rôma hay đã  được Toà Thánh chuẩn nhận. Tự bản chất, kinh Tạ Ơn đòi hỏi một mình vị tư tế đọc mà thôi, do chức thánh. Giáo dân hiệp ý với vị tư tế trong đức tin và trong thinh lặng, nhưng cũng can dự vào Kinh Tạ Ơn bằng những lời đáp trong phần đối thoại đầu kinh Tiền Tụng, bằng kinh Thánh, Thánh, Thánh, bằng tung hô sau truyền phép, bằng lời tung hô Amen sau lời vinh tụng cuối cùng, cũng như các lời tung hô khác được Hội Ðồng Giám Mục phê chuẩn và Toà Thánh công nhận. Những phần nào trong Kinh Tạ Ơn có nốt nhạc, thì vị tư tế nên hát.

148. Mở đầu Kinh Tạ  Ơn, vị tư tế dang tay hát hay đọc: "Chúa ở cùng anh chị em", giáo dân đáp: "Và ở cùng cha". Và khi đọc tiếp: "Hãy nâng tâm hồn lên", ngài nâng hai tay cao lên, giáo dân đáp: "Chúng con đang hướng về Chúa"; rồi giữ nguyên hai tay dang ra, đọc tiếp: "Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta", giáo dân thưa: "Thật là chính đáng". Sau đó vị tư tế dang tay đọc tiếp Kinh Tiền Tụng; sau Kinh Tiền Tụng, ngài chắp tay lại và cùng với các người hiện diện hát hay đọc rõ tiếng kinh "Thánh, Thánh, Thánh" (x. n. 79, b).

149. Vị tư tế tiếp tục kinh Tạ Ơn như chữ đỏ đã ghi trong mỗi kinh. Nếu chủ tế là Giám Mục, sau những lời "Cùng với Ðức Thánh Cha T. là tôi tớ Cha" ngài thêm "và con là tôi tớ bất xứng của Cha". Nếu Giám Mục cử hành ngoài giáo phận mình thì sau những lời: "Cùng với Ðức Thánh Cha T.", ngài thêm: "và con là tôi tớ bất xứng của Cha và người anh em con là T., giám mục giáo phận T. này".

Giám Mục giáo phận, hoặc vị cùng đẳng cấp theo luật, phải được xướng tên với công thức: "cùng với tôi tớ Cha là Ðức Giáo Hoàng T. và Ðức Cha T. là Giám Mục (hoặc: đại diện, giám chứ?, phủ doãn, đan viện phụ) giáo phận chúng con".

Trong kinh Tạ Ơn, được phép xướng tên các giám mục phó và giám mục phụ tá, nhưng không xướng tên các Giám Mục khác tình cờ hiện diện. Khi phải xướng tên nhiều vị thì đọc theo một công thức chung: "Ðức Cha T. Giám Mục giáo phận chúng con và các đức giám mục cộng tác với ngài".

Trong mỗi kinh Tạ ơn, phải lưu ý tới các quy tắc văn phạm mà thích nghi các công thức trên.

150. Một lát trước khi truyền phép, nếu thuận tiện, người giúp lễ sẽ rung chuông nhắc nhở giáo dân. Cũng rung chuông mỗi lần dâng Mình Thánh, Máu Thánh lên, tùy theo thói quen mỗi địa phương.

Nếu có xông hương thì người giúp lễ xông hương khi bánh thánh và chén được trình cho dân chúng sau truyền phép.

151. Sau khi truyền phép, vị tư tế nói: "Ðây là mầu nhiệm đức tin", giáo dân tung hô theo một trong các công thức có sẵn.

Cuối kinh Tạ Ơn, vị tư tế cầm đĩa có bánh thánh và chén, rồi nâng cả hai, đọc lời vinh tụng: Chính nhờ Ðức Kitô. Dân chúng tung hô: Amen. Sau đó vị tư tế đặt đĩa và chén trên khăn thánh.

152. Xong kinh Tạ Ơn, vị tư tế chắp tay đọc lời nhắn nhủ trước kinh Lạy Cha, rồi dang tay đọc kinh Lạy Cha cùng với giáo dân.

153. Ðọc kinh Lạy Cha xong, một mình vị tư tế dang tay đọc kinh "Lạy Cha xin cứu chúng con..". Khi đọc xong, giáo dân tung hô: "Vì Chúa là Vua...".

154. Rồi vị tư tế dang tay đọc rõ tiếng kinh "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói...". Xong kinh này, ngài dang tay, rồi chắp tay, hướng về giáo dân, chúc bình an: "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em". Giáo dân thưa: "Và ở cùng Cha". Sau đó, vị tư tế sẽ tuỳ nghi thêm: "Anh (chị) em hãy chúc bình an cho nhau".

Vị tư tế có thể chúc bình an cho các người giúp lễ, nhưng ngài phải luôn luôn ở trên cung thánh, để khỏi làm xáo trộn cuộc cử hành. Nếu có lý do chính đáng, ngài cũng có thể trao bình an cho vài giáo dân, nhưng vẫn ở trên cung thánh. Mọi người trao cho nhau bình an, sự hiệp thông và tình bác ái theo cách Hội Ðồng Giám Mục quy định. Khi trao bình an, có thể nói: "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh", và được đáp lại là "Amen".

155. Sau đó, vị tư tế cầm Mình Thánh, bẻ ra trên đĩa thánh và bỏ một phần nhỏ vào chén thánh, đọc thầm "Xin Mình và Máu Chúa Giêsu...". Ðang khi đó, ca đoàn và giáo dân hát hay đọc kinh "Lạy Chiên Thiên Chúa...".

156. Bấy giờ vị tư tế chắp tay đọc thầm kinh "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa..." hoặc "Lạy Chúa Giêsu Kitô, con sắp rước Mình và Máu Thánh Chúa...".

157. Ðọc kinh đó xong, vị tư tế bái gối, rồi cầm lấy Mình Thánh đưa lên cao một chút trên đĩa thánh hay trên chén thánh, hướng về giáo dân và nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa...", sau đó ngài cùng với giáo dân đọc một lần câu "Lạy Chúa, con chẳng đáng...".

158. Rồi vị tư tế đứng hướng về bàn thờ, đọc thầm "Xin Mình Thánh Chúa Kitô gìn giữ con...", và kính cẩn rước Mình Thánh Chúa Kitô. Ðoạn ngài cầm chén thánh đọc thầm: "Xin Máu Thánh Chúa Kitô gìn giữ con...", và kính cẩn rước Máu Thánh Chúa Kitô.

159. Khi vị tư tế rước lễ thì bắt đầu hát ca Hiệp lễ (x. n. 86).

160. Sau đó vị tư tế cầm đĩa thánh hay bình thánh, tiến đến chỗ những người rước lễ thông thường đi lên theo hàng.

Không cho phép chính tín hữu tự mình cầm lấy bánh thánh và chén thánh, càng không được chuyền cho nhau. Các tín hữu rước lễ quỳ hay đứng tùy theo quy định của Hội Ðồng Giám Mục. Nếu đứng, họ nên tỏ một cử chỉ tôn kính, theo như luật định, trước khi nhận Mình Máu Thánh.

161. Nếu chỉ cho rước lễ dưới hình bánh, vị tư tế đưa Mình Thánh lên cao một chút trước mặt mỗi người và nói: "Mình Thánh Chúa Kitô". Người rước lễ thưa "Amen", rồi rước lễ,bằng miệng, hoặc, nơi nào cho phép, bằng tay. Sau khi nhận lấy bánh thánh, người rước lễ rước hết ngay.

Về việc rước lễ dưới hai hình, thì giữ nghi thức mô tả dưới đây (x. nn. 284287).

162. Các linh mục hiện diện có thể giúp chủ tế cho rước lễ. Nếu không có linh mục và số người rước lễ quá đông, chủ tế có thể kêu giúp đỡ các thừa tác viên ngoại thường, nghĩa là thầy có chức giúp lễ và những tín hữu khác được đề cử vào việc này.[xcvi] [96] Trong trường hợp cấp bách, chủ tế có thể cử những tín hữu xứng đáng.[xcvii] [97]

Các thừa tác viên này không đến bàn thờ trước khi vị tư tế rước lễ và luôn luôn nhận các bình đựng Mình Máu Thánh để cho tín hữu rước từ tay vị chủ tế.

163. Cho rước lễ xong, vị tư tế rước hết rượu thánh hiến còn lại ngay tại bàn thờ; còn bánh thánh còn dư thì hoặc rước hết tại bàn thờ hay đưa cất trong nhà tạm.

Vị tư tế trở lại bàn thờ, thu những mụn bánh nếu có; rồi ngài đứng sang phía cạnh bàn thờ hay tới bàn phụ mà gạt các mụn bánh trên đĩa thánh và trong bình thánh vào chén thánh; ngài vừa tráng chén, vừa đọc thầm: "Lạy Chúa, miệng chúng con..." và dùng khăn lau chén mà lau. Nếu tráng chén trên bàn thờ, thì sau đó người giúp lễ sẽ đem bình và chén xuống bàn phụ. Cũng có thể để bình chưa tráng, nhất là khi có nhiều bình, trên một khăn thánh ở bàn thờ hay bàn phụ, che đậy lại tùy nghi, để liền sau lễ, khi giải tán dân chúng rồi, sẽ tráng.

164. Sau đó, vị tư tế có thể trở về ghế. Có thể giữ thinh lặng thánh một lúc, hoặc hát thánh ca ngợi khen hay thánh vịnh (x. n. 88).

165. Sau đó, vị tư tế  đứng tại bàn thờ hay tại ghế, chắp tay, hướng về giáo dân và đọc: "Chúng ta hãy cầu nguyện", rồi dang tay đọc lời nguyện Hiệp Lễ, nhưng trước lời nguyện này, có thể giữ thinh lặng trong giây lát, trừ khi đã giữ thinh lặng ngay sau khi rước lễ. Sau lời nguyện, giáo dân tung hô "Amen".

Nghi thức kết thúc

166. Ðọc lời nguyện Hiệp Lễ xong, nếu có điều gì cần loan báo cho giáo dân, thì nói vắn tắt.

167. Ðoạn vị tư tế dang tay chào giáo dân "Chúa ở cùng anh chị em", giáo dân thưa: "Và ở cùng Cha". Vị tư tế chắp tay, rồi lập tức tay trái đặt trên ngực và tay phải giơ lên, nói "Xin Thiên Chúa toàn năng" rồi vừa làm dấu thánh giá trên dân vừa đọc "Là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em". Mọi người thưa: "Amen".

Trong một ít ngày và một ít dịp, được tùy theo chữ đỏ mà dùng một công thức long trọng hơn, hoặc một lời nguyện cầu trên dân chúng, trước lời chúc lành này.

Giám Mục chúc lành cho dân bằng công thức phù hợp, tay làm ba lần dấu thánh giá trên dân.

168. Ngay sau khi chúc lành, vị tư tế chắp tay nói tiếp: "Lễ đã xong, chúc anh chị em ra về bình an". Mọi người thưa: "Tạ ơn Chúa".

169. Vị tư tế hôn bàn thờ như thường lệ, rồi cùng với các người giúp lễ chào kính bàn thờ mà ra về.

170. Nếu ngay sau Thánh Lễ có cử hành nghi thức phụng vụ nào khác, thì bỏ nghi thức kết thúc, tức là bỏ lời chào, lời chúc lành và giải tán. 

B. Thánh lễ có Thầy Phó Tế

171. Khi có thầy Phó tế dự phần vào việc cử hành Thánh Lễ, thầy phải mặc áo thánh và chu toàn thừa tác vụ của mình. Cách chung thầy phó tế:

a. Giúp vị tư tế và đi bên cạnh ngài khi tiến ra bàn thờ;

b. Tại bàn thờ, thầy sẽ phục vụ những việc liên hệ đến chén thánh và sách;

c. Công bố Tin Mừng và có thể giảng, nếu vị chủ tế bảo;

d. Nhắc nhở giáo dân khi cần và đọc các ý của lời nguyện phổ quát;

e. Giúp chủ tế ban Mình Máu Chúa và tráng, xếp các bình thánh;

f. Nếu không có người giup?lễ nào khác, thì khi cần, chính thầy sẽ làm công việc của các người ấy. 

Nghi thức đầu lễ

172. Hai tay nâng sách Tin Mừng, thầy phó tế đi trước vị tư tế mà tiến đến bàn thờ; nếu không có cầm sách thì thầy đi bên cạnh.

173. Khi đến bàn thờ, nếu mang sách Tin Mừng, thầy không bái kính, bước lên bàn thờ  đặt sách Tin Mừng trên bàn thờ, rồi cùng với vị tư tế hôn kính bàn thờ.

Nếu không mang sách Tin Mừng, thầy cúi mình sâu chào bàn thờ cùng với vị tư tế, và cùng với ngài hôn kính bàn thờ.

Sau đó, nếu có xông hương, thầy sẽ giúp vị tư tế bỏ hương và xông hương thánh giá và bàn thờ.

174. Xông hương xong, thầy cùng với vị tư tế tới ghế, đặt bên cạnh vị tư tế và giúp ngài khi cần. 

Phụng vụ Lời Chúa

175. Ðang khi hát Alêluia hay bài ca nào khác, nếu có xông hương, thầy Phó tế giúp vị tư tế bỏ hương, rồi cúi mình sâu trước mặt vị tư tế, xin phép lành, mà đọc nhỏ tiếng: "Xin Cha chúc lành cho con". Vị tư tế chúc lành cho thầy: "Xin Chúa ngự nơi tâm hồn...". Thầy Phó tế làm dấu thánh giá trên mình và thưa: "Amen", rồi sau khi đã chào kính bàn thờ, thầy lấy sách Tin Mừng trên bàn thờ, nếu sách để trên đó, đoạn tay nâng sách lên một chút tiến tới giảng đài, cùng với các người cầm hương, cầm nến đi trước, nếu có. Tại giảng đài, thầy chắp tay chào giáo dân: "Chúa ở cùng anh chị em", rồi khi đọc câu: "Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô", thầy lấy ngón cái làm dấu trên sách, sau đó trên trán, miệng và ngực mình, xông hương sách và công bố bài Tin Mừng. Ðọc xong, thầy nói: "Ðó là Lời Chúa", mọi người thưa: "Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa". Rồi thầy hôn kính sách và đọc thêm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc...", rồi về chỗ gần vị tư tế.

Khi thầy phó tế giúp Giám Mục, thầy đưa sách cho ngài hôn hay chính thầy vừa hôn sách vừa đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc". Trong các buổi cử hành long trọng, Giám Mục có thể ban phép lành cho dân chúng với sách Tin Mừng.

Sau đó thầy đưa sách Tin Mừng về bàn phụ hay một nơi thích đáng khác.

176. Nếu không có người đọc sách xứng đáng, thì thầy phó tế đọc các bài đọc.

177. Sau lời nói mở đầu của vị tư tế, thầy phó tế sẽ xướng các ý nguyện của lời nguyện cho mọi người, thường thì ở giảng đài. 

Phụng vụ Thánh Thể

178. Khi lời nguyện cho mọi người xong, vị tư tế ngồi xuống ghế, thầy phó tế cùng với thầy giúp lễ đi dọn bàn thờ, nhưng chính thầy phải sửa soạn các bình thánh. Thầy cũng giúp vịtư tế tiếp nhận lễ phẩm do giáo dân dâng tiến. Rồi thầy trao đĩa thánh có bánh lễ cho vị tư tế. Thầy vừa rót rượu và chút nước vào chén thánh, vừa đọc thầm: "Cũng như giọt nướcnày hoà chung...", rồi trao chén thánh cho vị tư tế. Có thể sửa soạn chén thánh tại bàn phụ. Nếu có xông hương, thầy giúp vị tư tế xông hương lễ phẩm, thánh giá và bàn thờ, sau đó, thầy hoặc một người giúp lễ khác, sẽ xông hương vị tư tế và giáo dân.

179. Trong phần kinh Tạ  Ơn, thầy Phó tế đứng gần vị tư tế, phía sau một chút, để khi cần, giúp ngài mở chén, mở sách .

Từ lúc đọc kinh khẩn xin Chúa Thánh Thần cho đến khi nâng chén thánh, thường thì thầy phó tế quỳ. Nếu có nhiều phó tế, một thầy sẽ bỏ hương và xông hương lúc nâng bánh thánh và chén thánh sau truyền phép.

180. Ðến vinh tụng ca kết thúc kinh Tạ Ơn, thầy phó tế đứng cạnh vị tư tế, nâng chén thánh lên, đang khi vị tư tế nâng đĩa có Mình Thánh, cho đến khi giáo dân đã tung hô: "Amen".

181. Sau khi vị tư tế đọc kinh cầu bình an và câu "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em", và giáo dân đã thưa "Và ở cùng Cha", thầy phó tế tùy nghi chắp tay, hướng về giáo dân mời trao bình an: "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau". Thầy nhận bình an của vị tư tế, và có thể chúc bình an cho những người giúp lễ gần mình.

182. Sau khi vị tư tế rước lễ, thầy phó tế rước lễ dưới hai hình từ tay ngài, rồi giúp ngài cho giáo dân rước lễ. Nếu giáo dân rước lễ dưới hai hình, chính thầy cầm chén cho rước Máu Thánh, rồi liền đó thầy kính cẩn rước hết tại bàn thờ Máu Thánh còn lại, nều cần có thể nhờ các phó tế khác và linh mục giúp đỡ.

183. Cho rước lễ xong, cùng với vị tư tế trở về bàn thờ, thầy lượm các vụn bánh thánh, nếu có, rồi đem chén thánh và các bình thánh xuống bàn phụ mà tráng và xếp dọn lại nhưthường lệ, trong khi vị tư tế trở về ghế. Cũng có thể để chén và bình thánh chưa tráng, chưa lau trên một khăn thánh ở bàn phụ, che đậy lại tùy nghi, để liền sau lễ sẽ tráng, một khi đã giải tán dân chúng.  

Nghi thức kết thúc

184. Khi vị tư tế đã  đọc lời nguyện Hiệp Lễ, nếu cần loan báo điều gì cho giáo dân, thầy phó tế sẽ nói vắn tắt, trừ khi chính linh mục muốn làm việc này.

185. Nếu có công thức ban phép lành trọng thể hay có lời nguyện trên dân chúng, thầy phó tế nói: "Anh chị em hay cúi mình nhận lãnh phép lành". Khi vị tư tế ban phép lành xong, thầy phó tế dùng những lời sau đây mà giải tán dân chúng: "Lễ  đã xong, chúc anh chị em ra về bình an".

186. Sau đó, cùng với vị tư tế, thầy hôn kính bàn thờ, và khi đã kính cẩn bái chào bàn thờ, thầy trở về cùng một cách như khi tiến ra. 

C.  Những phần việc của thầy giúp lễ

187. Các phần việc mà thầy giúp lễ có thể làm thuộc nhiều loại khác nhau; lại có nhiều phần việc phải làm cùng một lúc. Vậy nên phân phối các phần việc đó cho nhiều người. Nhưng nếu chỉ có một thầy giúp lễ có mặt, thầy sẽ thi hành những gì quan trọng hơn; còn các việc khác, thì trao cho những người giúp lễ khác.

Nghi thức đầu lễ

188. Khi tiến ra bàn thờ, thầy giúp lễ có thể mang thánh giá đi giữa hai người giúp cầm nến cháy. Khi tới bàn thờ, thầy đặt thánh giá gần bàn thờ, để thành thánh giá bàn thờ, nếu không thì đem cất vào nơi xứng đáng. Rồi thầy về chỗ của mình trong cung thánh.

189. Trong suốt buổi cử hành, nhiệm vụ của thầy giúp lễ là đến gần vị tư tế, hoặc phó tế, mỗi khi cần, để đưa sách và giúp các ngài trong những gì cần thiết. Do đó, nên hết sức dành cho thầy một chỗ thuận tiện, để thầy dễ dàng lo phần việc của mình nơi ghế ngồi hay tại bàn thờ. 

Phụng vụ Thánh Thể

190. Nếu không có thầy phó tế, thì sau lời nguyện cho mọi người, và khi vị tư tế còn ở tại ghế, thầy giúp lễ đặt khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và Sách Lễ lên bàn thờ. Rồi, nếu cần, thầy giúp vị tư tế tiếp nhận lễ phẩm do giáo dân dâng tiến, và, nếu tiện, đưa bánh rượu tới bàn thờ và trao cho vị tư tế. Nếu có xông hương, chính thầy đưa bình hương chovị tư tế và giúp ngài xông hương lễ phẩm, thánh giá và bàn thờ. Rồi thầy xông hương vị tư tế và giáo dân.

191. Thầy có thừa tác vụ giúp lễ có thể giúp vị tư tế cho giáo dân rước lễ, nếu cần, với tư cách một thừa tác viên ngoại lệ.[xcviii] [98] Nếu cho rước lễ dưới hai hình, mà không có thầy phó tế, thầy cho họ rước Máu Thánh; nếu giáo dân rước lễ theo cách chấm, thì thầy cầm chén thánh.

192. Cho rước lễ xong, thầy có thừa tác vụ giúp lễ giúp vị tư tế hoặc phó tế lau và sắp xếp các bình thánh. Khi không có thầy Phó tế, thầy giúp lễ mang các bình thánh tới bàn phụ, tráng lau và sắp xếp các bình thánh tại đó.

193. Lễ xong, thầy giúp lễ cùng với các thừa tác viên khác, làm một với phó tế và vị tư tế, trở về phòng thánh theo kiểu đoàn rước cùng một cách và thứ tự như khi đi ra. 

D. Những phần việc của thầy đọc sách

Nghi thức đầu lễ

194. Khi tiến ra bàn thờ, nếu không có thầy Phó tế, thầy đọc sách, mặc áo được chấp thuận, có thể mang sách Tin Mừng, nâng cao lên một chút; trong trường hợp này, thầy đi trước vị tư tế; còn nếu không, thầy đi với các người giúp khác.

195. Khi tới bàn thờ, cùng với những người khác, thầy kính cẩn bái chào bàn thờ. Nếu có mang sách Tin Mừng, thầy bước tới bàn thờ, đặt sách Tin Mừng trên bàn thờ Sau đó, thầy cùng với các người giúp khác về chỗ của mình trong cung thánh.

Phụng vụ Lời Chúa

196. Thầy đọc các bài đọc trước bài Tin Mừng trên giảng đài. Khi không có ca viên, thầy cũng có thể đọc thánh vịnh và đáp ca sau bài đọc thứ nhất.

197. Khi không có thầy phó tế, thì sau lời dẫn nhập của vị tư tế, thầy đọc sách có thể xướng các ý nguyện của lời nguyện cho mọi người.

198. Nếu không hát ca nhập lễ hoặc ca hiệp lễ, và giáo dân không đọc các ca nhập lễ hoặc ca hiệp lễ ghi trong Sách Lễ, thì thầy đọc sách đọc các ca nhập lễ hoặc ca hiệp lễ vào lúc thích hợp (x. nn. 48, 87).

II. THÁNH LỄ  ÐỒNG TẾ

199. Việc đồng tế biểu lộ thích đáng sự hiệp nhất của chức tư tế và hy lễ, cũng như của toàn thể dân Chúa. Do chính nghi thức, buộc phải có đồng tế trong nghi lễ truyền chức Giám Mục và linh mục, trong lễ Chúc phong viện phụ và lễ Dầu.

Cũng khuyên nên đồng tế trong những trường hợp sau đây, trừ phi lợi ích của tín hữu đòi hỏi cách khác:

a. Thánh lễ Tiệc Ly chiều thứ Năm Tuần Thánh;

b. Thánh lễ vào các dịp họp Công Ðồng, Hội nghị các Giám Mục và Hội Ðồng Giám Mục;

c. Thánh lễ nhà dòng và Thánh Lễ chính trong các nhà thờ và nhà nguyện;

d. Thánh lễ trong mọi loại hội họp các linh mục triều hay dòng.[xcix] [99]

Mỗi vị tư tế được phép cử hành Thánh Lễ riêng, nhưng không được cùng lúc trong nhà thờ hay nhà nguyện có đồng tế. Tuy nhiên, không được phép dâng lễ riêng vào chiều thứ Năm Thánh (lễ Tiệc Ly) và đêm Vọng Phục Sinh.

200. Các linh mục đi hành hương được chấp nhận cho đồng tế, miễn là biết rõ tình trạng tư tế của các ngài.

201. Ở đâu số vị tư tế quá đông, thì có thể đồng tế nhiều lần trong cùng ngày, nếu có nhu cầu hay lợi ích mục vụ  đòi hỏi làm thế; tuy nhiên phải đồng tế vào những thời gian kế tiếp nhau hay trong những nơi thánh khác nhau.[c] [100]

202. Chiếu theo luật, Giám Mục là người điều hành kỷ luật đồng tế trong mọi thánh đường và nguyện đường của giáo phận mình.

203. Phải hết sức quý trọng lễ đồng tế mà các linh mục trong mỗi giáo phận cử hành với Ðức Giám Mục của mình, trong lễ trạm, nhất là vào những dịp lễ trọng của năm phụng vụ, trong lễ phong chức tân Giám Mục giáo phận hay giám mục phó hoặc phụ tá của ngài, trong lễ làm phép dầu, lễ chiều Tiệc Ly, lễ kính các vị Thánh Sáng Lập Hội Thánh địa phương hay Thánh Bổn Mạng giáo phận, lễ giáp năm của Giám Mục, cuối cùng vào những dịp Hội Nghị hay viếng thăm mục vụ.

Cũng một lẽ ấy, khuyên nên đồng tế mỗi lần các linh mục hội họp với Giám Mục của mình, vào dịp tĩnh tâm hay hội họp nào khác. Trong những trường họp này, dấu chỉ sự hiệp nhấtcủa chức tư tế, cũng như của Hội Thánh, là đặc tính của mọi đồng tế, được biểu lộ một cách rõ ràng.[ci] [101]

204. Vì lý do đặc biệt của ý nghĩa nghi thức hay của ngày lễ, còn được phép tế lễ hay đồng tế nhiều lần trong cùng một ngày, trong những trường hợp sau đây:

a. Ai đã tế lễ hay đồng tế trong lễ dầu ngày thứ Năm Tuần Thánh, thì còn được tế lễ hay đồng tế trong Thánh Lễ chiều Tiệc Ly;

b. Ai đã tế lễ hay đồng tế lễ Vọng Phục Sinh, thì có thể tế lễ hay đồng tế lễ ngày Phục Sinh;

c. Trong lễ Giáng Sinh, mọi tư tế có thể tế lễ hay đồng tế ba Thánh Lễ, miễn là vào đúng thời điểm của những Thánh Lễ này;

d. Vào ngày cầu cho các tín hữu đã qua đời, miễn là cử hành Thánh Lễ vào những thời gian khác nhau và giữ những điều đã qui định cho Thánh Lễ thứ hai và thứ ba.[cii] [102]

e. Nếu ai đồng tế với Giám Mục hay vị đặc sứ trong dịp Hội Nghị hay viếng thăm mục vụ, hoặc trong các dịp hội họp linh mục, thì có thể cử hành Thánh Lễ một lần nữa cho lợi ích giáo dân. Ðiều này cũng áp dụng cho các buỗi tụ họp các tu sĩ.

205. Trong bất cứ hình thức đồng tế nào, Thánh Lễ phải diễn tiến theo các qui luật chung (x. nn. 112198), tuy nhiên phải giữ hoặc thay đổi theo những điều nói sau đây.

206. Khi Thánh Lễ đã bắt đầu, không bao giờ được vào đồng tế hay tiếp nhận ai vào đồng tế.

207. Trên cung thánh phải chuẩn bị:

a. Ghế và sách cho các vị  đồng tế;

b. Trên bàn phụ: chén thánh đủ lớn, hoặc nhiều chén thánh.

208. Nếu trong Thánh Lễ  đồng tế không có phó tế, thì các phần vụ riêng của phó tế được vài vị đồng tế đảm trách.

Nếu không có thừa tác viên nào khác, thì giáo dân xứng đáng có thể làm thay, còn nếu không nữa, thì vài vị đồng tế thi hành.

209. Các vị đồng tế mặc lễ phục nơi phòng thánh hay một nơi khác xứng hợp, như thường mặc khi làm lễ một mình. Tuy nhiên khi có lý do chính đáng, chẳng hạn: đông số đồng tếquá mà thiếu lễ phục, thì các vị đồng tế, luôn luôn trừ vị chủ tế, có thể bỏ áo lễ, chỉ mang dây stola trên áo alba.

Nghi thức đầu lễ

210. Sau khi mọi sự đã chuẩn bị chu đáo, thì, thông thường, đi rước qua thánh đường để tới bàn thờ. Các vị đồng tế đi trước chủ tế.

211. Khi đến bàn thờ, các vị đồng tế và chủ tế bái sâu chào, rồi hôn kính bàn thờ, sau đó về chỗ ngồi của mình. Vị chủ tế, tùy nghi, xông hương thánh giá và bàn thờ, rồi về ghế.

Phụng vụ Lời Chúa

212. Trong phần phụng vụ Lời Chúa, các vị đồng tế ở tại chỗ, ngồi và  đứng như vị chủ tế.

Khi Giám Mục chủ toạ, thì một linh mục, nếu không có phó tế, công bố Tin Mừng, sau khi xin và nhận phép lành. Nhưng không làm thế khi chủ tế là một linh mục.

213. Thông thường vị chủ tế, hay một trong các vị đồng tế diễn giảng.

Phụng vụ Thánh Thể

214. Phần chuẩn bị lễ phẩm ( xem nn. 139145) do chủ tế làm, các vị đồng tế khác ngồi tại chỗ.

215. Sau khi chủ tế đọc lời nguyện tiến lễ, các vị đồng tế tiến đến và đứng chung quanh bàn thờ, nhưng tránh gây trở ngại cho việc thi hành các nghi thức, và che khuất không cho giáo dân thấy rõ hành động thánh, cũng như gây trở ngại cho phó tế khi phải tiến đến bàn thờ làm nhiệm vụ mình.

Dù cho có mặt các vị  đồng tế, phó tế vẫn phải thi hành thừa tác vụ của mình gần bàn thờ, khi giúp mở chén và sách. Tuy nhiên thầy nên đứng lui ra sau các vị ấy một chút.

Cách thức đọc Lời Nguyện Thánh thể

216. Chỉ một mình vị chủ tế hát hay đọc kinh Tiền Tuing. Còn kinh Thánh, Thánh, Thánh, thì mọi vị  đồng tế cùng với giáo dân và ca đoàn hát hay đọc.

217. Xong kinh Thánh, Thánh, Thánh, các vị đồng tế đọc Lời Nguyện Thánh Thể theo cách được mô tả sau. Chỉ có chủ tế làm các cử chỉ, ngoại trừ khi ghi cách khác.

218. Những phần mà các vị  đồng tế cùng đọc, và nhất là mọi người buộc phải đọc các lời truyền phép, thì phải đọc nhỏ tiếng, để cho giọng của chủ tế được nghe rõ ràng. Bằng cáchấy, giáo dân mới lãnh hội bản văn dễ dàng hơn.

Những phần mà mọi vị  đồng tế cùng đọc, mà có ghi dấu nhạc trong Sách Lễ, thì nên hát. 

Kinh Nguyện Thánh Thể I, hay Lễ Qui Rôma

219. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể I, hay Lễ Qui Rôma, một mình chủ tế dang tay đọc: "Lạy Cha rất nhân từ (Te igitur)".

220. Kinh cầu cho kẻ sống và kinh "Cùng hiệp thông" (Memento vivorum et Communicantes) nên để cho một trong các vị đồng tế luân phiên nhau đọc, dang tay và rõ tiếng.

221. Kinh "Vậy, lạy Cha" (Hanc igitur) lại do một mình chủ tế dang tay đọc.

222. Từ kinh "Lạy Cha, xin thánh hoa"?cho đến kinh "Lạy Cha, là Thiên Chúa toàn năng" (a "Quam oblationem" usque ad "Supplices"), chỉ một mình chủ tế làm các cử chỉ, tất cảcác vị đồng tế cùng đọc chung, theo cách sau đây:

a. Kinh "Lạy Cha, xin thánh hoá"? hai tay giơ về phía lễ phẩm;

b. Các kinh "Tối hôm trước ngày", "Cùng một thể thức ấy": chắp tay;

c. Các lời của Chúa: tay phải, nếu thấy tiện, giơ về phía bánh và chén; mắt nhìn bánh thánh và chén khi nâng lên cho xem thấy và sau đó, thì cúi mình sâu;

d. Các kinh "Vì vậy, lạy Cha" và "Xin Cha đoái nhìn": dang tay;

e. Kinh "Lạy Cha là Thiên Chúa toàn năng": cúi mình và chắp tay cho đến câu "tại bàn thờ này", rồi đứng thẳng lên và làm dấu khi đọc câu "tất cả chúng con được đầy tràn ơn phúc bởi trời".

223. Kinh cầu cho người qua đời và kinh "Xin cũng cho chúng con là tôi tớ tội lỗi": một trong các vị đồng tế luân phiên đọc, dang tay và rõ tiếng.

224. Ðến câu "Xin cũng cho chúng con là tôi tớ tội lỗi": mọi vị đồng tế đấm ngực.

225. Câu "Nhờ Người Cha không ngừng sáng tạo": một mình chủ tế đọc.

Kinh Nguyện Thánh Thể II

226. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, một mình chủ tế dang tay đọc: "Lạy Cha, Cha thật là Ðấng Thánh".

227. Từ kinh "Vì vậy, lạy Cha" cho đến kinh "Nguyện xin Cha đoái nhìn", mọi vị đồng tế cùng đọc chung theo cách sau đây:

a. "Vì thế, chúng con xin Cha": hai tay giơ về lễ phẩm;

b. "Khi bị nộp" và "Cùng một thể thức ấy": chắp tay;

c. Các lời của Chúa: tay phải, nếu thấy tiện, giơ hướng về bánh và chén; mắt nhìn Mình Thánh và Chén Thánh khi nâng lên cho thấy và sau đó thì cúi mình sâu;

d. "Vì thế, lạy Cha, giờ  đây tưởng nhớ" và " Chúng con cúi xin Cha": dang tay.

228. Các lời cầu cho người sống: "Lạy Cha, xin nhớ đến Hội Thánh", và cho người qua đời: "Xin Cha cũng nhớ đến", một trong các vị đồng tế luân phiên dang tay đọc.

Kinh Nguyện Thánh Thể III

229. Trong Kinh Nguyện Thánh thể III, một mình chủ tế dang tay đọc: "Lạy Cha, Cha thật là Ðấng Thánh".

230. Từ "Vì vậy, lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha" cho đến "Nguyện xin Cha đoái nhìn": tất cả các vị đồng tế cùng đọc theo cách thức sau đây:

a. "Vì vậy, Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha": hai tay giơ về phía lễ phẩm;

b. "Trong đêm bị trao nộp" và "Cùng một thể thức ấy": chắp tay;

c. Các lời của Chúa: tay phải, nếu thấy tiện, giơ hướng về bánh và chén; mắt nhìn bánh thánh và chén khi nâng lên cho thấy và sau đó cúi mình sâu;

d. "Vì vậy, lạy Cha" và "Nguyện xin Cha đoái nhìn": dang tay.

231. Các lời chuyển cầu: "Nguyện xin Chúa Thánh Thần" và "Lạy Cha, xin cho hy lễ hoà giải này": một trong các vị đồng tế luân phiên dang tay đọc.

Kinh Nguyện Thánh thể IV

232. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể IV, từ câu "Lạy Cha chí thánh" cho đến "hoàn thành công cuộc thánh hoá muôn loài": một mình chủ tế dang tay đọc.

233. Từ "Vậy, lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần" cho đến "Lạy Cha, xin nhìn đến hy lễ": mọi vị đồng tế đều đọc theo cách thức sau đây:

a. "Vậy, lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần": hai tay giơ hướng về lễ phẩm;

b. "Lạy Cha chí thánh, khi đến giờ" và "Cùng một thể thức ấy": chắp tay;

c. Các lời của Chúa: tay phải, nếu thấy tiện, giơ hướng về bánh và chén; mắt nhìn bánh thánh và chén khi nâng cho thấy và sau đó cúi mình sâu;

d. "Vì vậy, lạy Cha, giờ  đây" và "Lạy Cha, xin nhìn đến": dang tay.

234. Các lời chuyển cầu: "Lạy Cha, giờ đây" và "Lạy Cha nhân từ": một trong các vị đồng tế luân phiên dang tay đọc.

235. Còn về các Kinh Nguyện Thánh Thể khác, được Toà Thánh chuẩn nhận, thì theo các qui tắc ấn định cho chúng.

236. Vị chủ tế và các vị  đồng tế cùng đọc vinh tụng ca cuối Kinh Nguyện Thánh Thể, nhưng giáo dân không đọc.

Nghi thức hiệp lễ

237. Sau đó, vị chủ tế chắp tay đọc lời nhắn nhủ trước kinh Lạy Cha, rồi ngài cùng với các vị  đồng tế dang tay đọc kinh Lạy Cha cùng với giáo dân.

238. Kinh "Lạy Cha, xin cứu chúng con" do một mình chủ tế dang tay đọc. Tất cả các vị đồng tế, cùng với giáo dân, tung hô kết thúc: "Vì Chúa là Vua".

239. Sau lời mời của phó tế, hay của một vị đồng tế, nếu không có phó tế: "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau", mọi người trao cho nhau bình an. Chủ tế trao bình an cho những vị  đồng tế gần nhất, trước khi trao cho thầy phó tế.

240. Trong khi hát hay đọc "Lạy Chiên Thiên Chúa", các phó tế và vài vị đồng tế có thể giúp chủ tế bẻ bánh thánh để cho các vị  đồng tế và giáo dân rước lễ.

241. Khi hoà bánh thánh vào rượu thánh xong, một mình chủ tế đọc thầm kinh "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" hay kinh "Lạy Chúa Giêsu Kitô, con sắp rước".

242. Sau khi đọc xong lời nguyện trước rước lễ, chủ tế bái gối, lui ra một chút. Các vị đồng tế từng người một đến giữa bàn thờ, quì gối và kính cẩn cầm lầy Mình Thánh Chúa tại bàn thờ, và tay phải cầm Mình Thánh, có tay trái đở phía dưới mà lui về chỗ của mình. Tuy nhiên, các vị đồng tế có thể đứng tại chỗ và nhận lấy Mình Thánh từ đĩa do vị chủ tế hoặc một hay nhiều vị đồng tế cầm đi ngang qua trước mặt các ngài, hay, chuyền đĩa cho người kế tiếp cho đến người cuối cùng.

243. Sau đó, chủ tế cầm lấy Mình Thánh được truyền phép trong chính Thánh Lễ ấy, nâng cao lên một chút trên đĩa hay trên chén, hướng về giáo dân và nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa", rồi đọc tiếp cùng với các vị đồng tế và giáo dân: "Lạy Chúa, con chẳng đáng".

244. Rồi chủ tế hướng về bàn thờ, đọc thầm: "Xin Mình Thánh Chúa Kitô gìn giữ con" và kính cẩn rước lấy. Các vị đồng tế cũng làm như vậy khi các ngài rước lễ. Tiếp theo, chủ tếcho thầy phó tế rước lễ.

245. Có thể rước Máu Thánh hoặc uống trực tiếp chén thánh, hoặc bằng cách chấm, hoặc bằng thìa, hoặc bằng ống hút.

246. Nếu rước Máu Thánh bằng cách uống trực tiếp chén thánh, có thể theo một trong hai cách sau đây:

a. Chủ tế cầm lấy chén và  đọc thầm: "Xin Máu Thánh Chúa Kitô gìn giữ con", rồi uống một chút, đoạn trao chén cho phó tế hay một vị đồng tế. Sau đó ngài cho giáo dân rước lễ (x. nn. 160162).

Các vị đồng tế, từng người một, hay từng hai người nếu có hai chén, tiến đến bàn thờ, quì gối, rước Máu Thánh, lau miệng chén và trở về chỗ.

b. Chủ tế đứng tại giữa bàn thờ rước lấy Máu Thánh.

Các vị đồng tế có thể rước Máu Thánh tại chỗ mình từ chén thánh do phó tế hay một vị đồng tế đưa tới, hoặc chuyền chén thánh cho nhau. Chén thánh luôn luôn được lau bởi vị vừa uống hay bởi người trao chén. Ai đã rước Máu Thánh, thì trở về ghế mình.

247. Thầy phó tế kính cẩn rước hết tại bàn thờ Máu Thánh còn lại, nếu cần thì nhờ vài vị đồng tế giúp đỡ. Sau đó, đem chén thánh về bàn phụ, tại đây chính thầy hay thầy có chức giúp lễ tráng, lau và xếp đặt như thường lệ (x. n. 183).

248. Các vị đồng tế cũng có thể rước Mình Thánh đặt trên bàn thờ và liền sau đó, rước Máu Thánh.

Trong trường hợp này, chủ tế rước lễ dưới hai hình như thường lệ (x. n. 158), nếu ngài chọn cách thức rước chén thánh nào thì các vị đồng tế khác theo cách ấy.

Sau khi chủ tế rước lễ, chén thánh được đặt bên cạnh bàn thờ trên một khăn thánh khác. Các vị đồng tế từng người một đến giữa bàn thờ, quì gối và rước Mình Thánh, sau đó  đi qua bên cạnh bàn thờ và rước Máu Thánh, theo nghi thức rước chén thánh đã chọn, như nói trên.

Việc thầy phó tế rước lễ và tráng chén được thực hiện cùng một cách như trên.

249. Nếu các vị đồng tế rước bằng cách chấm, thì chủ tế rước Mình và Máu Thánh Chúa như thường lệ, tuy nhiên chú ý  để lại trong chén đủ Máu Thánh cho các vị đồng tế rước. Sau đó, thầy phó tế, hay một vị đồng tế, đặt chén thành ở giữa bàn thờ hay bên cạnh bàn thờ trên một khăn thánh khác, cùng với đĩa đựng Mình Thánh.

Các vị đồng tế, từng người một, tiến đến bàn thờ, quì gối, cầm lầy Mình Thánh, nhúng một phần vào chén, rồi cầm đĩa hứng dưới miệng, rước lấy Mình Thánh đã nhúng đó, sau đó trở về chỗ ngồi lúc đầu lễ.

Phó tế cũng rước bằng cách chấm. Một vị đồng tế nói khi trao: Mình và Máu Chúa Kitô, phó tế đáp: Amen. Phó tế rước hết tại bàn thờ Máu Thánh còn lại, có thể nhờ vài vị đồng tếgiúp, nếu cần, rồi đem chén thánh đến bàn phụ, và chính thầy hay một thầy có chức giúp lễ tráng, lau và xếp đặt chén thánh.

Nghi thức kết thúc

250. Chủ tế làm như thường lệ những nghi thức kết thúc Thánh Lễ (x. nn. 166169), còn các vị đồng tế cứ ở tại chỗ.

251. Trước khi rời bàn thờ, mọi người bái sâu chào bàn thờ. Còn chủ tế hôn kính bàn thờ như thường lệ. 

III.  THÁNH LỄ CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI GIÚP

252. Trong Thánh Lễ vị tư tế cử hành mà chỉ có một người giúp và thưa, thì dùng nghi thức Thánh Lễ có giáo dân (x. nn. 120169), người giúp tùy nghi làm những phần việc của dân chúng.

253. Nều người giúp là phó tế, thì thầy sẽ chu toàn những phần việc của riêng mình (x. nn. 171186), và các phần việc khác của dân chúng.

254. Nếu không có lý do chính đáng và hợp lý, không được cử hành Thánh Lễ mà không có người giúp hay ít là một tín hữu. Trong trường hợp này, bỏ các lời chào, lời nhắn nhủ và phép lành cuối lễ.

255. Chén lễ được dọn trước hoặc trên bàn phụ bên cạnh bàn thờ, hoặc trên bàn thờ phía bên phải, còn Sách Lễ thì đặt phía bên trái.

Nghi thức đầu lễ

256. Vị tư tế, sau khi cúi sâu chào bàn thờ, đứng trước bàn thờ, làm dấu thánh giá, và nói: "Nhân danh Chúa Cha"; đoạn quay chào người giúp bằng một trong các công thức đềnghị; rồi làm việc thống hối.

257. Sau đó ngài tiến lên bàn thờ và hôn bàn thờ, đoạn đến bên Sách Lễ phía trái bàn thờ và đứng ở đó cho đến hết lời nguyện cho mọi người.

258. Sau đó ngài đọc ca nhập lễ, và kinh "Lạy Chúa, xin thương xót" và "Vinh danh", theo luật chữ đỏ.

259. Ðoạn, ngài chắp tay đọc "Chúng ta hãy cầu nguyện", ngưng một lát, rồi dang tay đọc lời nguyện nhập lễ. Cuối lời nguyện, người giúp thưa to: "Amen". 

Phụng vụ Lời Chúa

260. Hết sức có thể nên đọc các bài đọc tại giảng đài hay tại một bục.

261. Xong lời nguyện nhập lễ, người giúp đọc bài đọc thứ nhất và thánh vịnh, rồi bài đọc hai, khi phải đọc, sau đó, Alêluia và câu kèm theo hay một bài ca khác.

262. Ðoạn vị tư tế cúi mình đọc "Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy", rồi đọc bài Tin Mừng. Kết bài ngài nói: "Ðó là Lời Chúa", người giúp thưa: "Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa". Vị tư tế hôn sách và đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng..."

263. Sau đó vị tư tế cùng với người giúp đọc kinh Tin Kính, theo luật chữ đỏ.

264. Tiếp theo là lời nguyện cho mọi người, cũng có thể đọc trong Thánh Lễ này, vị tư tế xướng các lời nguyện, người giúp thưa lại. 

Phụng vụ Thánh Thể

265. Phụng vụ Thánh Thể  được cử hành theo như Thánh Lễ có giáo dân, ngoại trừ những điều sau đây.

266. Sau lời tung hô cuối kinh kế tiếp kinh Lạy Cha, vị tư tế đọc kinh "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói", rồi thêm: "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh em", người giúp thưa: "Và ởcùng Cha". Tùy nghi vị tư tế trao bình an cho người giúp.

267. Ðoạn, trong khi đọc "Lạy Chiên Thiên Chúa" cùng với người giúp, linh mục bẻ bánh thánh trên đĩa. Sau kinh "Lạy Chiên Thiên Chúa", ngài vừa hoà Mình và Máu Thánh vừa đọc thầm: "Xin Mình và Máu thánh".

268. Sau khi hoà trộn, vị tư tế đọc thầm: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" hoặc "Lạy Chúa Giêsu Kitô, con sắp rước"; rồi bái gối, cầm bánh thánh và, nếu người giúp rước lễ, hướng về người ấy, nâng bánh thánh lên một chút trên đĩa, nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa" và cùng với người ấy đọc: "Lạy Chúa, con chẳng đáng". Ðoạn, ngài quay mặt về?bàn thờ rước Mình Thánh Chúa Kitô. Nếu người giúp không rước lễ, thì sau khi quì gối xong, ngài quay mặt về bàn thờ, đọc thầm một lần: "Lạy Chúa, con chẳng đáng" và "Xin Mình Thánh Chúa Kitô gìn giữ con", rồi rước Mình Thánh Chúa Kitô. Ðoạn ngài cầm lấy chén và đọc thầm: "Xin Máu Thánh Chúa Kitô gìn giữ con" và rước lấy Máu Thánh.

269. Trước khi cho người giúp rước lễ, vị tư tế đọc ca hiệp lễ.

270. Vị tư tế tráng chén ở bên trái bàn thờ hay tại bàn phụ. Nếu chén được tráng ở bàn thờ, thì người giúp có thể đưa về bàn phụ, hay đặt bên trái bàn thờ.

271. Sau khi tráng chén xong, vị tư tế nên giữ thinh lặng một chút, rồi đọc lời nguyện hiệp lễ.

Nghi thức kết thúc

272. Nghi thức kết thúc được làm như trong Thánh Lễ có giáo dân. Bỏ lời: Lễ xong. Vị tư tế hôn kính bàn thờ như lệ thường và sau khi cúi mình sâu, ra về cùng với người giúp.

IV.  VÀI QUI LUẬT CHUNG CHO MỌI HÌNH THỨC THÁNH LỄ

Việc tôn kính bàn thờ và sách Tin Mừng

273. Theo thói quen lưu truyền, việc tôn kính bàn thờ và sách Tin Mừng được biểu lộ bằng cách hôn. Nhưng, ở nơi nào cử chỉ ấy không phù hợp với tập tục và tinh thần địa phương, thì Hội Ðồng Giám Mục chỉ định một cách khác thay thế, với sự đồng ý của Toà Thánh. 

Bái gối và cúi

274. Bái gối, nghĩa là gối phải nghiêng đụng đất, là cử chỉ thờ phượng, do đó dành cho Thánh Thể và Thánh Giá từ khi được tôn kính trọng thể trong phụng vụ thứ Sáu Thánh tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa, cho đến bắt đầu Vọng Phục Sinh.

Trong Thánh Lễ có ba lần bái gối, đó là sau khi nâng bánh thánh, sau khi nâng chén thánh và trước lúc hiệp lễ. Trong Thánh Lễ đồng tế có vài điều đặc biệt phải giữ về điểm này (x.nn. 210251).

Nếu nhà tạm có Thánh Thể  được đặt trong cung thánh, thì vị tư tế, phó tế và các người giúp khác phải bái gối, khi đi đến bàn thờ hoặc khi rời bàn thờ, nhưng không bái gối trong lúc cử hành Thánh Lễ.

Ngoài ra, mọi người bái gối khi đi ngang trước Thánh Thể, trừ phi khi đi kiệu.

Những người mang thánh giá hay đèn thì thay vì bái gối, họ cúi đầu.

275. Cúi biểu lộ lòng tôn kính đối với những đấng, những người hoặc các dấu hiệu của họ. Có hai loại cúi: cúi đầu và cúi mình:

a. Cúi đầu khi đọc danh Ba Ngôi, và tên thánh Giêsu, Ðức Trinh Nữ Maria và vị thánh trong Thánh Lễ kính vị này.

b. Cúi mình hay cúi sâu khi chào kính bàn thờ, khi đọc các kinh "Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy" và "Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin thương nhận", khi đọc câu trong kinh Tin Kính: "Bởi phép Chúa Thánh Thần", khi đọc câu trong Lễ Quy Rôma: "Chúng con nài xin Cha". Thầy phó tế cũng cúi mình khi xin phép lành trước lúc công bố Tin Mừng. Ngoài ra vịtư tế cũng nghiêng mình một chút khi đọc các lời của Chúa lúc truyền phép. 

Việc xông hương

276. Xông hương diễn tả lòng tôn kính và cầu nguyện, như Thánh Kinh đã nói (x. Tv 140,2; Kh 8,3).

Ðược tuỳ ý xông hương trong bất cứ hình thức Thánh Lễ nào:

a. Khi đi rước tiến vào;

b. Ðầu lễ, xông hương thánh giá và bàn thờ;

c. Khi rước và công bố Tin Mừng;

d. Sau khi đặt bánh và chén rượu trên bàn thờ, xông hương lễ phẩm, thánh giá và bàn thờ, cũng như vị tư tế và giáo dân;

e. Khi nâng bánh thánh và chén sau truyền phép.

277. Khi bỏ hương vào bình hương, vị tư tế làm dấu thánh giá chúc lành mà không đọc gì.

Trước và sau khi xông hương, cúi sâu chào những người hay những vật được xông hương, ngoại trừ bàn thờ và lễ phẩm dùng cho hy tế Thánh Lễ.

Phải xông hương ba lần: Thánh Thể, di tích Thánh Giá và ảnh Chúa được trưng bày cho tôn kính công khai, lễ phẩm dùng cho hy tế Thánh Lễ, thánh giá bàn thờ, sách Tin Mừng, nến phục sinh, vị tư tế và giáo dân.

Xông hương hai lần các di tích và ảnh các Thánh được trưng bày cho tôn kính công khai, và chỉ lúc đầu cuộc cử hành, khi xông hương bàn thờ.

Bàn thờ được xông hương bằng những cái lắc bình hương theo cách thức sau đây:

a. Nếu bàn thờ tách biệt vách tường, vị tư tế đi vòng chung quanh bàn thờ mà xông;

b. Nếu bàn thờ dính liền với vách tường, vị tư tế xông hương phía phải, rồi phía trái;

Nếu thánh giá đặt phía trên bàn thờ hay tại bàn thờ, thì xông hương thánh giá trước khi xông bàn thờ; trong những trường hợp khác, xông thánh giá khi đi ngang qua.

Vị tư tế xông hương lễ phẩm ba lần trước khi xông thánh giá và bàn thờ, hoặc xông theo hình thánh giá trên các lễ phẩm.  

Việc tráng chén

278. Mỗi khi có mãnh vụn bánh thánh dính nơi các ngón tay, nhất là sau khi bẻ bánh hoặc cho giáo dân rước lễ, vị tư tế phải lau các ngón tay trên đĩa hoặc rửa nếu cần. Cũng phải thu lượm các mãnh, nếu chúng rơi ngoài đĩa thánh.

279. Các chén thánh được vị tư tế, phó tế hay thầy có chức giúp lễ tráng lau sau rước lễ hoặc sau Thánh Lễ, nên làm việc này tại bàn phụ. Tráng chén bằng nước hoặc bằng nước và rượu, và người tráng uống hết. Ðĩa thánh được chùi bằng khăn lau.

Phải liệu sao Máu Thánh còn lại sau khi cho rước được uống hết tại bàn thờ.

280. Nếu bánh thánh hay phần bánh thánh bị rơi vải, phải kính cẩn nhặt lấy, nếu có chút Máu Thánh rớt xuống chỗ nào, thì phải rửa nơi đó bằng nước, và sau đó đổ nước ấy vào giếng thánh đặt trong phòng thánh. 

Việc hiệp lễ dưới hai hình

281. Xét về phương diện dấu chỉ, việc hiệp lễ dưới hai hình là hình thức đầy đủ hơn. Quả vậy, dưới hình thức này, dấu chỉ của bữa tiệc Thánh Thể được sáng tỏ hơn. Ý Thiên Chúa muốn thiết lập Giao Ước mới và vĩnh cửu trong Máu Thánh Chúa cũng được biểu lộ rõ ràng hơn. Ðồng thời, mối tương quan giữa bữa tiệc Thánh Thể và bữa tiệc cánh chung trong nước Chúa Cha được diễn tả minh bạch hơn.[ciii] [103]

282. Các vị chủ chăn phải lo liệu dùng cách nào thích hợp nhất để gợi lại trong tâm trí tín hữu, những người rước lễ cũng như những người dự lễ, giáo lý công giáo về hình thức hiệp lễ, theo ý Công Ðồng Triđentinô? Trước hết, phải nhắc cho các kitô hữu nhớ rằng theo đức tin công giáo, dù rước lễ dưới một hình, họ cũng lãnh nhận trọn vẹn Chúa Kitô và bí tích thực thụ. Bởi đó, về hiệu quả, người rước lễ dưới một hình thôi cũng chẳng thiệt mất ơn nào cần thiết cho sự cứu độ.[civ] [104]

Phải dạy cho họ biết trong việc phân phát các bí tích, Hội Thánh có quyền ấn định hoặc thay đổi những gì xét ra thuận tiện hơn cho việc tôn kính các bí tích, hay cho lợi ích của người lãnh nhận, theo biến chuyển của sự vật, thời đại và nơi chốn, tuy vẫn phải giữ nguyên vẹn những gì thuộc bản chất của bí tích.[cv] [105] Tuy nhiên, các ngài đồng thời cũng phải giáo huấn họ để họ ước muốn tham dự cách nhiệt tình hơn vào nghi thức thánh, qua đó dấu chỉ của tiệc Thánh Thể được biểu lộ cách đầy đủ hơn.

283. Ngoại trừ những trường hợp được nói đến trong các sách nghi thức, còn được rước lễ dưới hai hình:

a. Các tư tế không thể cử hành hay đồng tế Thánh Lễ;

b. Thầy phó tế và những người chu toàn một phận vụ nào đó trong Thánh Lễ;

c. Các thành viên của các cộng đoàn trong Thánh Lễ tu viện hoặc Thánh Lễ "cộng đoàn", các học viên chủng viện, tất cả những người dự tĩnh tâm hay tham gia hội nghị về tu đức và mục vụ.

Giám Mục giáo phận có thể  định ra những quy tắc về rước lễ dưới hai hình cho giáo phận mình, các cộng đoàn tu sĩ và các nhóm nhỏ cũng phải tuân theo. Giám Mục cũng có năngquyền cho phép rước lễ dưới hai hình, mỗi lần vị chủ tế thấy là thích đáng, miễn là tín hữu được giáo huấn kỷ lưỡng và không có bất cứ nguy cơ xúc phạm đến Thánh Thể hoặc nghi thức gặp khó khăn vì đông người tham dự quá hay vì lý do nào khác.

284. Khi cho rước lễ dưới hai hình;

a. Thông thường thầy phó tế cho rước Máu Thánh, hoặc, nếu không có phó tế, thì linh mục, hay thầy có chức giúp lễ hay một thừa tác viên cho rước lễ ngoại thường khác, hay một tín hữu, được giao cho việc này, trong trường hợp cấp bách.

b. Phần Máu Thánh còn lại phải được rước hết tại bàn thờ bởi vị tư tế, phó tế, hay thầy có chức giúp lễ, đã cho rước chén và thầy này tráng, lau và xếp các bình thánh theo cách thường lệ.

Các tín hữu chỉ muốn rước dưới một hình bánh thôi, thì rước lễ dưới dạng này.

285. Ðể cho rước lễ dưới hai hình cần phải chuẩn bị:

a. Nếu rước Máu Thánh bằng cách uống trực tiếp thì chuẩn bị một chén lớn cho đủ, hoặc nhiều chén, tuy nhiên luôn luôn dự kiến đừng để sau Thánh Lễ phải uống quá nhiều Máu Thánh còn dư lại.

b. Nếu rước bằng cách chấm, thì bánh thánh đừng quá mỏng hay quá nhỏ, nhưng dày một chút để khi chấm một phần vào Máu Thánh, có thể trao cho dễ dàng.

286. Nếu rước Máu Thánh bằng cách uống chén thánh, người rước lễ sau khi đã chịu Mình Thánh, đi sang thừa tác viên cầm chén và đứng trước mặt. Thừa tác viên nói: "Máu Thánh Chúa Kitô"? người rước đáp: "Amen", và thừa tác viên đưa chén, người rước cầm chén bằng hai tay đưa lên miệng. Người rước uống một chút, trả lại chén cho thừa tác viên rồi lui gót; thừa tác viên dùng khăn lau miệng chén.

287. Nếu rước chén thánh bằng cách chấm, người rước cầm đĩa dưới miệng, tiến đến vị tư tế cầm chén thánh và bên cạnh ngài có thừa tác viên cầm bình Mình Thánh. Vị tư tế lấy bánh thánh, nhúng một phần vào chén, rồi đưa cho vừa nói: "Mình và Máu Chúa Kitô", người rước nhận lấy bằng miệng, rồi lui gót.  

Chương V: CÁCH XẾP ÐẶT VÀ TRANG TRÍ THÁNH ÐƯỜNG ÐỂ CỬ HÀNH THÁNH LỄ

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT

II. VIỆC SẮP XẾP CUNG THÁNH ÐỂ CỬ HÀNH THÁNH LỄ

Bàn thờ

Giảng đài

Ghế của vị chủ tế và các ghế khác

III. VIỆC SẮP XẾP CHỖ TRONG THÁNH ÐƯỜNG

Chỗ của các tín hữu

Chỗ của ca đoàn và nhạc cụ

Chỗ lưu giữ Mình Thánh Chúa

Các ảnh tượng thánh 

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT

288. Ðể cử hành Thánh Lễ, dân Chúa thường tập họp nơi thánh đường, hoặc nếu không có thánh đường hay thánh đường không đủ lớn, thì tập họp ở một nơi trang nghiêm, xứng đáng với mầu nhiệm rất thánh này. Vậy, thánh đượng và những nơi khác phải phù hợp với việc cử hành thánh và giúp giáo dân tham dự cách linh động. Hơn nữa, các nơi thánh và các đồ vật dùng trong phụng vụ phải đẹp, xứng đáng, đồng thời biểu thị và tượng trưng cho những thực tại siêu phàm.[cvi] [106]

[cvii]

289. Vì thế, Hội Thánh không ngừng tìm kiếm sự trợ giúp cao quý của nghệ thuật và chấp nhận những giá trị nghệ thuật của mọi dân tộc và địa phương.[cviii] [107] Hơn nữa, cũng như Hội Thánh đã nổ lực bảo vệ những công trình và những kho tàng nghệ thuật đã lưu truyền lại qua các thế hệ,[cix] [108] và tuỳ theo sự cần thiết mà thích nghi với những nhu cầu mới, thì Hội Thánh cũng cố gắng cổ võ những gì mới mẻ phù hợp với tinh thần của mỗi thời đại.[cx] [109]

Cho nên trong việc đào tạo các mỹ thuật gia, cũng như trong việc chọn lựa những tác phẩm cho thánh đường, phải tìm kiếm phẩm chất đích thực của nghệ thuật giúp nuôi dưỡng đức tin và lòng đạo đức, lại thích hợp với nội dung của điều muốn diễn tả và với mục đích nhắm tới.[cxi] [110]

290. Mọi thánh đường cần được cung hiến hay ít là làm phép. Tuy nhiên các nhà thờ chánh toà và nhà thờ giáo xứ phải được cung hiến theo nghi thức long trọng.

291. Ðể xây dựng, sửa chữa, sắp xếp cho đúng các thánh đường, mọi người có liên quan cần tham khảo ý kiến của Ủy Ban giáo phận về Phụng Vụ và Nghệ Thuật thánh. Giám Mục giáo phận dựa trên ý kiến và sự trợ giúp của Ủy Ban này khi đưa ra các quy tắc về thiết kế thánh đường, hoặc khi chấp thuận hoạ đồ thánh đường mới, hoặc khi phải giải quyết một vài vấn đề khá quan trọng.[cxii] [111]

292. Việc trang trí thánh đường nên chuộng vẻ đơn sơ cao quý hơn là hào nhoáng. Khi chọn lựa các vật dụng để trang trí, nên dùng đồ thật và theo hướng góp phần giáo huấn các tín hữu và phù hợp với sự trang nghiệm của nơi thánh.

293. Muốn cho việc sắp xếp thánh đường và các cấu trúc liên quan đáp ứng tốt với các nhu cầu thời đại, thì không những chúng phải thuận lợi cho việc cử hành các lễ nghi thánh, mà chúng còn phải cung cấp sự thoải mái thích đáng cho các tín hữu, giống như họ thường được hưởng ở những nơi họ tập họp.

294. Dân Chúa, khi tụ họp cử hành Thánh Lễ, tuân giữ thứ tự hài hoà và phẩm trật, được biểu lộ qua các thừa tác vụ khác nhau và hành động khác nhau tùy theo các phần của cửhành. Do đó việc sắp xếp tổng quát thánh đường nên phản ả?h phần nào cộng đoàn tập họp, và cho phép mọi người có vị trí thích hợp, cũng như tạo thuận lợi cho mỗi người thi hành đúng đắn phần việc của mình.

Các tín hữu và ca đoàn phải có vị trí giúp việc tham gia tích cực của họ được dễ dàng.[cxiii] [112]

Vị chủ tế, thầy phó tế và các người giúp khác phải có chỗ trên cung thánh. Cũng phải dọn ghế ngồi cho các vị đồng tế trên cung thánh. Còn khi số  đồng tế quá đông, thì sắp xếp ghếngồ? đâu đó trong thánh đường, nhưng phải gần bàn thờ.

Mọi điều trên, tuy phải diễn tả thứ tự phẩm trật và sự khác biệt các nhiệm vụ, nhưng phải mang lại sự hiệp nhất thân tình và hài hoà, nhờ đó sự hiệp nhất của toàn thể dân thánh được toả sáng. Chất liệu và vẻ mỹ quan của nơi thánh và toàn thể vật dụng tạo thuận lợi cho lòng đạo đức và bày tỏ sự thánh thiện của các mầu nhiệm được cử hành. 

II.  VIỆC SẮP XẾP CUNG THÁNH ÐỂ CỬ HÀNH THÁNH LỄ

295. Cung thánh là nơi đặt bàn thờ, công bố lời Chúa, và vị tư tế, phó tế và các người giúp khác thi hành nhiệm vụ mình. Cung thánh cần được phân biệt với lòng thánh đường bằng độ cao hơn, hay bằng một cấu trúc và trang trí đặc biệt. Nó phải đủ rộng để việc cử hành Thánh Lễ có thể diễn tiến tử tế và được nhìn thấy.[cxiv] [113]

Bàn thờ

296. Bàn thờ, nơi hy lễ thập giá được hiện tại hoá dưới những dấu bí tích, cũng là bàn tiệc của Chúa, mà dân Chúa được mời đến tham dự trong Thánh Lễ. Bàn thờ cũng là trung tâm của việc tạ ơn được thực hiện cách hoàn hảo qua lễ tế Tạ Ơn.

297. Trong nơi thánh, Thánh Lễ phải được cử hành trên một bàn thờ; còn ngoài nơi thánh thì có thể cử hành trên một cái bàn xứng đáng, nhưng luôn phải có khăn phủ bàn thờ và khăn thánh, thánh giá và đèn.

298. Trong mọi thánh đường phải có bàn thờ cố định tượng trưng cách rõ ràng và thường xuyên cho Chúa Giêsu Kitô, tảng đá sống động (1 P 2,4; x. Ep 2,20). Còn trong các nơi khác, dùng vào việc cử hành thánh, thì bàn thờ có thể di động.

Bàn thờ gọi là cố định, nếu được làm dính với nền cung thánh, và do đó không thể di chuyển được; nếu chuyển dời được thì gọi là di động.

299. Bàn thờ chính được xây xa vách tường, để có thể dễ dàng đi chung quanh và trên đó có thể cử hành Thánh Lễ quay xuống giáo dân. Bàn thờ phải chiếm vị trí trung tâm, mà tất cả cộng đoàn tín hữu tự nhiên hướng về đó.[cxv] [114] Thông thường, bàn thờ phải cố định và được cung hiến.

300. Bàn thờ cả cố định lẫn di động được cung hiến theo nghi thức được mô tả trong sách Pontificale Romanum, tuy nhiên bàn thờ di động có thể chỉ làm phép mà thôi.

301. Theo tập tục cổ truyền của Hội Thánh và theo ý nghĩa, mặt bàn thờ cố định phải làm bằng đá, và là đá tự nhiên. Nhưng tùy theo sự xét đoán của Hội Ðồng Giám Mục, cũng có thể dùng những chất liệu khác xứng hợp, bền chắc và được cấu tạo cách nghệ thuật. Chân hay phần dưới bàn thờ có thể làm bằng bất cứ chất liệu nào, miễn là chất liệu đó xứng hợp và bền chắc.

Bàn thờ di động có thể làm bằng bất cứ chất liệu nào quý, bền chắc và phù hợp với việc phụng tự, theo truyền thống và tập tục của mỗi miền.

302. Thói quen đặt xương thánh dưới bàn thờ đã cung hiến, dù không phải là xương các thánh tử đạo, nên được duy trì. Nhưng phải cẩn thận kiểm tra để biết chắc đó là xương thánh thật.

303. Trong các thánh đường mới xây, chỉ nên đặt một bàn thờ, tượng trưng cho một Chúa Kitô ở giữa cộng đoàn tín hữu và một Thánh Lễ của Hội Thánh.

Còn trong các thánh đường xây đã lâu, khi bàn thờ cũ nằm ở vị trí gây khó khăn cho việc tham dự của giáo dân và không thể dời chuyển mà không làm tổn hại giá trị nghệ thuật, thì xây một bàn thờ cố định khác, được làm với nghệ thuật và cung hiến theo nghi thức, và chỉ được cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ này mà thôi. Ðể giáo dân khỏi bị chia trí, thì bàn thờcũ không được trang trí gì đặc biệt.

304. Vì lòng tôn kính đối với việc cử hành tưởng niệm Chúa và đối với bữa tiệc dọn Mình và Máu Chúa, nên phủ bàn thờ nơi cử hành một khăn màu trắng, có hình dáng, kích thước và trang trí thích hợp với cấu trúc của bàn thờ.

305. Nên giữ chừng mực khi trang hoàng bàn thờ.

Trong Mùa Vọng, bàn thờ  được chưng hoa cách vừa phải, thích hợp với đặc tính của mùa, để không cho thấy quá sớm niềm vui trọn vẹn của ngày Sinh Nhật Chúa. Mùa Chay không được chưng hoa trên bàn thờ, trừ Chúa Nhật Laetare (IV Mùa Chay), các lễ trọng và lễ kính.

Việc chưng hoa phải luôn luôn điều độ, và nên đặt hoa chung quanh bàn thờ hơn là trên bàn thờ.

306. Trên bàn thờ chỉ  đặt những gì mà việc cử hành Thánh Lễ đòi hỏi, nghĩa là, sách Tin Mừng từ đầu cử hành cho đến khi công bố Tin Mừng, chén thánh với đĩa, bình thánh, nếu cần, khăn thánh, khăn lau và Sách Lễ từ lúc trình lễ phẩm cho đến khi tráng chén. 

Phải đặt cách kín đáo những gì cần khuếch âm tiếng của vị tư tế.

307. Mỗi khi cử hành phụng vụ, cần có những cây nến để tỏ lòng cung kính và mừng lễ (x. n. 117) được đặt trên bàn thờ hay chung quanh bàn thờ, tùy theo cấu trúc của bàn thờ và cung thánh, miễn sao cho có sự hoà hợp chung và đừng cản trở giáo dân nhìn thấy dễ dàng những gì đang thực hiện hay đặt trên bàn thờ.

308. Trên bàn thờ hay gần cạnh, phải có thánh giá có hình Chúa chịu nạn, mà giáo dân tập họp có thể thấy rõ. Thánh giá như thế sẽ gợi cho trí các giáo dân nhớ sự thương khó cứu độ của Chúa, và được để thường xuyên gần bàn thờ ngay cả ngoài lúc cử hành phụng vụ.

Giảng đài

309. Phẩm giá Lời Chúa đòi phải có một nơi thích hợp trong nhà thờ, để Lời Chúa được loan báo và giáo dân tự nhiên hướng về đó trong phần phụng vụ Lời Chúa.[cxvi] [115]

Nơi đó thường phải là một giảng đài cố định, chứ không phải chỉ là một cái giá sách di chuyển được. Phải tùy theo cấu trúc của mỗi nhà thờ mà đặt giảng đài để giáo dân có thể dễdàng nhìn thấy và nghe được thừa tác viên có chức thánh và các độc viên.

Tại giảng đài sẽ đọc các bài đọc, thánh vịnh đáp ca và bài công bố Tin Mừng Phục Sinh. Cũng tại đó có thể giảng và đọc các lời nguyện cho mọi người, tức là lời nguyện giáo dân. Phẩm giá của giảng đài đòi chỉ có thừa tác viên lời đi lên đó.

Giảng đài mới nên được làm phép, trước khi được dùng vào phụng vụ, theo nghi thức mô tả trong sách Nghi Thức Rôma.[cxvii] [116]

Ghế của vị chủ tế và các ghế khác

310. Ghế của vị chủ tế phải nói lên vai trò chủ toạ cộng đoàn và điều khiển kinh nguyện. Do đó, chỗ thích hợp nhất là phía đầu cung thánh, hướng về giáo dân, trừ phi lối kiến trúc thánh đường hoặc những hoàn cảnh khác không cho phép, ví dụ: khoảng cách quá xa làm cho việc hiệp thông giữa vị tư tế và giáo dân trở nên khó khăn, hoặc vì nhà tạm chiếm chỗgiữa phía sau bàn thờ. Phải tránh mọi thứ ngai toà.[cxviii] [117] Nên làm phép ghế, trước khi sử dụng trong phụng vụ, theo nghi thức trong sách Nghi Thức Rôma.[cxix] [118]

Cũng đặt ghế trong cung thánh cho các vị đồng tế và các linh mục hiện diện trong buổi cử hành mà không đồng tế, các vị này phải mặc áo "các phép".

Ghế của thầy phó tế  được đặt gần ghế chủ tế. Còn ghế cho các người giúp khác phải đặt sao cho phân biệt rõ ràng với ghế của hàng giáo sĩ và cho các người giúp có thể thi hành phận vụ mình cách dễ dàng.[cxx] [119]

III.  VIỆC SẮP XẾP CHỖ TRONG THÁNH ÐƯỜNG

Chỗ của các tín hữu

311. Phải xếp đặt cho tín hữu có chỗ thích hợp, để họ bằng mắt và tâm hồn có thể tham dự đàng hoàng những nghi thức thánh. Nên theo thói quen mà cho họ dùng ghế dài hay ghế một. Nhưng phải loại bỏ thói tục dành ghế cho một số tư nhân.[cxxi] [120] Các ghế một hay ghế dài, đặc biệt trong những thánh đường mới xây cất, phải được sắp xếp sao cho tín hữu có thể dễ dàng có những điệu bộ thân xác cần thiết trong các phần cử hành khác nhau và cũng dễ dàng lên rước lễ.

Phải liệu làm sao cho tín hữu không những nhìn thấy vị tư tế, phó tế hay các người đọc sách, mà còn nghe rõ nhờ những phương tiện kỹ thuật hiện đại. 

Chỗ của ca đoàn và nhạc cụ

312. Phải dựa vào cấu trúc của thánh đường mà xếp chỗ cho ca đoàn, để cho thấy bản chất của ca đoàn là thành phần của cộng đoàn tụ họp và giữ một phận vụ riêng biệt, để ca đoàn dễ dàng thực hiện phận vụ mình, và mọi ca viên thuận lợi tham dự đầy đủ vào Thánh Lễ, nghĩa là tham dự bí tích Thánh Thể.[cxxii] [121]

313. Còn phong cầm và các nhạc cụ khác đã được chấp thuận cách hợp pháp, thì phải đặt vào chỗ thích hợp, để chúng có thể trợ giúp ca đoàn và giáo dân hát và, nếu độc tấu, thì mọi người có thể nghe tốt được. Nên làm phép đàn phong cầm, trước khi sử dụng trong phụng vụ, theo nghi thức mô tả trong sách Nghi thức Rôma.[cxxiii] [122]

Trong Mùa Vọng được phép đánh phong cầm và các nhạc cụ khác cách vừa phải, phù hợp với đặc tính của mùa này, nhưng đừng đi trước niềm vui trọn vẹn của lễ Chúa Giáng Sinh.

Trong Mùa Chay tiếng phong cầm và các nhạc cụ khác chỉ để giúp hát mà thôi, trừ Chúa Nhật Laetare (IV Mùa Chay), lễ trọng và lễ kính. 

Chỗ lưu giữ Mình Thánh Chúa

314. Tùy theo cấu trúc của thánh đường và thể theo các tục lệ chính đáng địa phương, Mình Thánh Chúa được lưu giữ trong nhà tạm, nơi phần trang trọng của thánh đường, có dấu nhận biết, có trang trí và thích hợp cho việc cầu nguyện.[cxxiv] [123]

Theo thói quen, chỉ có một nhà tạm, không thể di chuyển, làm bằng vật liệu vững chắc, không trong suốt, và phải đóng kín để tránh tối đa mọi nguy cơ phạm thánh.[cxxv] [124]Nên làm phép nhà tạm trước khi dùng trong phụng vụ, theo nghi thức mô tả trong Nghi thức Rôma.[cxxvi] [125]

315. Vì lý do dấu chỉ, không nên đặt nhà tạm lưu giữ Mình Thánh Chúa trên bàn thờ nơi cử hành Thánh Lễ.[cxxvii] [126]

Do đó, tuỳ theo quyết định của Giám Mục giáo phận, nên đặt nhà tạm

a. Hoặc trong cung thánh, ngoài bàn thờ dâng lễ, miễn là tương hợp với hình dáng và nơi chốn, không loại trừ trên bàn thờ cũ không còn được dùng để cử hành.

b. Hoặc trong một phòng thích hợp cho sự thờ phượng riêng và cầu nguyện của tín hữu,[cxxviii] [127] dính liền với nhà thờ và dễ thấy đối với giáo dân.

316. Theo thói quen truyền thống, gần nhà tạm phải có một ngọn đèn riêng cháy sáng thường xuyên, đốt bằng dầu hay sáp, để chỉ và tôn kính sự hiện diện của Chúa Kitô.[cxxix][128]

317. Ðừng quên các điều khác do luật quy định về việc lưu giữ Mình Thánh Chúa.[cxxx] [129] 

Các ảnh tượng thánh

318. Trong Phụng vụ trần gian, Hội Thánh tham dự, nếm trước Phụng vụ trên trời, được cử hành trong thánh đô Giêrusalem, nơi Hội Thánh là lữ khách đang tiến về, ở đó Chúa Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa, và khi kính nhớ các Thánh, Hội Thánh hy vọng được thông phần và đoàn tụ với các ngài.[cxxxi] [130]

Do đó, theo truyền thống rất cổ kính trong Hội Thánh, được phép đặt các ảnh tượng Chúa, Ðức Trinh Nữ Maria, và các Thánh trong các thánh đường để tín hữu tôn kính.[cxxxii][131] Các ảnh tượng ấy phải được bố trí trong thánh đường sao cho các tín hữu được dẫn dắt đến các mầu nhiệm đức tin được cử hành ở đấy. Nhưng phải liệu sao cho các ảnh tượng đó  đừng nhiều quá và được bố trí thế nào để tín hữu khỏi chia trí khi tham dự những lễ nghi.[cxxxiii] [132] Mỗi vị thánh chỉ nên có cùng một ảnh tượng. Cách chung, trong việc trang trí và sắp xếp thánh đường, việc đặt các ảnh tượng phải lưu tâm đến lòng đạo đức của toàn thể cộng đoàn và vẻ đẹ? cùng giá trị của các ảnh tượng. 

Chương VI: NHỮNG GÌ CẦN PHẢI CÓ ÐỂ CỬ HÀNH THÁNH LỄ

I. BÁNH VÀ RƯỢU LỄ

II. CÁC VẬT DỤNG PHỤNG VỤ NÓI CHUNG

III. CÁC BÌNH THÁNH

IV. PHẨM PHỤC THÁNH

V. NHỮNG VẬT DỤNG KHÁC DÙNG TRONG THÁNH ÐƯỜNG 

I.  BÁNH VÀ RƯỢU LỄ

319. Noi gương Chúa Kitô, Hội Thánh luôn dùng bánh và rượu có pha chút nước để cử hành bữa tiệc của Chúa.

320. Bánh lễ phải là bánh miến thuần túy, mới làm, và theo truyền thống xưa của Hội Thánh Latinh, phải là bánh không men.

321. Tính cách dấu chỉ  đòi chất liệu dùng khi cử hành Thánh Lễ phải thực sự  được coi là của ăn. Vậy, dù đó là thứ bánh không men và làm theo hình thức cổ truyền, phải làm bánh lễ thế nào, để trong Thánh Lễ có giáo dân tham dự, vị tư tế có thể bẻ bánh đó ra nhiều phần và phân phát cho ít là một số tín hữu rước. Tuy nhiên, không loại trừ những bánh lễ nhỏ, khi số người rước lễ và những lý do mục vụ khác đòi hỏi. Cử chỉ bẻ bánh, đã trở nên tên gọi bí tích Thánh Thể đời các Tông đồ, sẽ biểu lộ rõ rệt hơn hiệu lực và tầm quan trọng của dấu chỉ sự hiệp nhất giữa mọi người trong một tấm bánh, và dấu chỉ đức bác ái, bởi vì một tấm bánh được phân phát giữa anh em.

322. Rượu dùng trong Thánh Lễ phải là rượu nho (x. Lc 22,18), tự nhiên và nguyên chất, nghĩa là không pha trộn chất gì khác.

323. Phải cẩn thận lo liệu sao cho bánh và rượu lễ được giữ trong tình trạng tốt, nghĩa là rượu không ra chua và bánh không bị hư hỏng hay quá cứng, đến nỗi khó bẻ.

324. Nếu sau truyền phép hay lúc rước lễ, vị tư tế mới nhận ra không phải rượu được rót, mà là nước, thì hãy đổ nước đó trong một bình, rồi rót rượu và nước vào chén thánh, đọc phần trình thuật liên quan đến truyền phép chén, mà truyền phép rượu đó, không buộc truyền phép bánh lần nữa. 

II. CÁC VẬT DỤNG PHỤNG VỤ NÓI CHUNG

325. Cũng như đối với việc xây dựng thánh đường, Hội Thánh chấp nhận mỹ thuật và tính địa phương trong việc chế tạo các vật dụng phụng vụ, và tiếp nhận những cách thích nghi hợp với não trạng và truyền thống mỗi dân tộc, miễn là chúng đáp ứng với mục tiêu sử dụng mà các vật dụng thánh nhắm tới.[cxxxiv] [133]

Về vấn đề này, phải chú trọng tính cách đơn sơ trang nhã, là điều luôn đi đôi với mỹ thuật đích thực.

326. Khi chọn lựa chất liệu để làm các vật dụng thánh, thì ngoài những chất liệu truyền thống, có thể chấp nhận những chất liệu được coi là trang nhã, bền vững, theo quan điểm thời đại chúng ta và thích hợp tốt với việc sử dụng thánh. Hội Ðồng Giám Mục sẽ phán quyết về vấn đề này cho mỗi miền.

III. CÁC BÌNH THÁNH

327. Trong các vật dụng cần phải có để cử hành Thánh Lễ, các bình thánh phải được đặt biệt tôn trọng, và trong số đó, có chén thánh và đĩa thánh, dùng để dâng, truyền phép và rước bánh rượu.

328. Các bình thánh phải được làm bằng kim loại quý. Nếu được chế từ kim loại có thể bị rỉ sét hay kém hơn vàng, thì phía trong các bình phải được mạ vàng.

329. Tuỳ theo phán quyết của Hội Ðồng Giám Mục, được Toà Thánh ra văn bản công nhận, các bình thánh có thể được làm bằng những chất liệu khác vững bền và cao quý theo đánh giá chung của địa phương, ví dụ: ngà hay vài thứ gỗ cứng, miễn là thích hợp cho việc sử dụng thánh. Trong trường hợp này luôn luôn nên chọn chất liệu không dễ vở hay hưhỏng. Ðiều này đặc biệt áp dụng cho các bình đựng Mình Thánh, như đĩa, bình, hộp, mặt nhật v.v...

330. Về chén thánh và các bình đựng Máu Chúa, phần chứa đựng phải làm bằng chất liệu không thẩm thấu. Còn phần chân thì có thể làm bằng chất khác bền chắc và xứng đáng.

331. Ðĩa đựng bánh thánh nên làm khá lớn để có thể đặt vào đó bánh cho vị tư tế, phó tế, các người giúp khác và tín hữu.

332. Về hình dáng các bình thánh, các nghệ nhân chế tạo theo cách thích đáng, đáp ứng các thông tục của địa phương, miễn là thích hợp với việc sự dụng thánh mà chúng nhắm tới, và phân biệt rõ với những bình thông dụng.

333. Việc làm phép các bình thánh phải theo nghi thức trong các sách phụng vụ.[cxxxv] [134]

334. Nên giữ thói tục làm một giếng thánh trong phòng thánh. để đổ vào đấy nước rửa bình thánh và nước rửa chỗ bánh thánh rơi (x. n. 280).

IV. PHẨM PHỤC THÁNH

335. Trong Hội Thánh, là  Thân thể Chúa Kitô, các chi thể không thi hành cùng một phận vụ như nhau. Khi cử hành Thánh Lễ, sự khác biệt giữa các phận vụ được tỏ lộ ra bên ngoài bằng sự khác biệt các phẩm phục thánh, chúng là dấu chỉ cho biết phần vụ riêng của thừa tác viên. Tuy nhiên các phẩm phục thánh cũng nên góp phần tăng vẻ đẹp của hành vi thánh. Phẩm phục của vị tư tế, phó tế và thừa tác viên giáo dân phải được làm phép theo nghi thức.[cxxxvi] [135]

336. Phẩm phục cho mọi thừa tác viên có chức thánh hay có thừa tác vụ thuộc bất cứ cấp bậc nào là áo trắng dài có dây thắc lưng, ngoại trừ áo được may dính liền với thân thểnên không cần dây. Trước khi mặc áo alba, nếu nó không che kín áo thường xung quanh cổ, thì dùng khăn vai. Không được thay thế áo alba bằng áo các phép, cũng không được mặc một áo dài tới gót thay cho áo alba, khi phải mặc áo lễ hay áo phó tế, hoặc, theo luật, chỉ mang có dây stola mà không có áo lễ hay áo phó tế.

337. Phẩm phục riêng của vị chủ tế trong Thánh Lễ và những hành vi thánh có liên quan trực tiếp đến Thánh Lễ, là áo lễ mặc ngoài áo alba và dây stola, nếu luật phụng vụ khôngđịnh khác đi.

338. Phẩm phục riêng cho phó tế là áo dalmatica, mặc ngoài áo alba và dây stola; tuy nhiên có thể bỏ áo dalmatica vì lý do cần thiết hay vì cuộc lễ ít long trọng.

339. Thầy giúp lễ, đọc sách, và các người giúp giáo dân khác có thể mặc áo alba hay áo nào khác được Hội Ðồng Giám Mục chấp thuận hợp pháp cho từng miền.

340. Vị tư tế mang dây stola xung quanh cổ và rủ xuống ngực, còn phó tế thì mang chéo từ vai trái ngang trước ngực sang bên phải thân thể, và  được kẹp giữ ở đó.

341. Áo choàng được vị tư tế mặc khi rước kiệu hay các hành vi thánh khác, theo luật chữ đỏ của các nghi thức đó.

342. Về hình dáng của phẩm phục thánh, Hội Ðồng Giám Mục có thể xác định và  đề nghị với Toà Thánh những thích nghi đáp ứng với các nhu cầu và thói tục của từng miền.[cxxxvii][136]

343. Ðể làm các phẩm phục thánh, ngoài những chất liệu truyền thống, có thể dùng sợi tự nhiên có sẵn ở địa phương, và những sợi nhân tạo khác, đáp ứng với phẩm giá của hành vi thánh và nhân vật. Hội Ðồng Giám Mục phán quyết về chuyện này.[cxxxviii] [137]

344. Nên biết là vẻ đẹp và sự trang nhã của phẩm phục không hệ tại nhiều trang trí đính thêm vào, nhưng ở tại chất liệu và hình dáng. Các trang trí phải mang những hình dung hay biểu tượng chỉ về ý nghĩa của cử hành phụng vụ, phải loại bỏ những trang trí bất xứng với ý nghĩa này.

345. Các màu sắc khác nhau của phẩm phục nhằm diễn tả cách hữu hiệu và ra bên ngoài khi thì đặc tính của các mầu nhiệm đức tin được cử hành, khi thì ý nghĩa của đời sống kitô giáo, theo diễn tiến của năm phụng vụ.

346. Về màu sắc của phẩm phục thánh, nên giữ thói quen truyền thống sau đây:

a. Màu trắng được dùng trong Thần vụ và Thánh Lễ mùa Phục Sinh và mùa Giáng Sinh, trong các lễ kính Chúa, ngoại trừ cuộc Thương Khó của Người, các lễ kính Ðức Trinh NữMaria, các Thiên Thần, các Thánh không tử đạo, lễ trọng kính Các Thánh (1 tháng 11), kính Gioan Tẩy Giả (24/6), các lễ kính thánh Gioan Thánh sử (27/12), Ngai Toà Phêrô (22/2), thánh Phaolô trở lại (25/1).

b. Màu đỏ được dùng trong Chúa Nhật Thương Khó và thứ Sáu Tuần Thánh, Chúa Nhật Hiện Xuống, các cử hành cuộc Thương Khó của Chúa, lễ các Tông Ðồ và Thánh Sử, và lễ các Thánh Tử  Ðạo.

c. Màu xanh dùng trong Thần vụ và Thánh Lễ mùa "Quanh Năm".

d. Màu tím dùng trong mùa Vọng và mùa Chay. Có thể dùng trong các nghi thức phụng vụ và Thánh Lễ cầu cho người qua đời.

e. Màu đen có thể dùng trong lễ cầu cho người qua đời, ở đâu có thói quen này.

f. Màu hồng có thể dùng trong Chúa Nhật Gaudéte (III Mùa Vọng) và Laetare (IV Mùa Chay), ở đâu có thói quen này.

Tuy nhiên, Hội Ðồng Giám Mục có thể quy định và đệ trình cho Toà Thánh các thích nghi về màu sắc phụng vụ đáp ứng với nhu cầu và não trạng của dân chúng.

347. Trong các lễ nghi thức, dùng màu riêng của lễ, hay màu trắng hay màu lễ hội; còn các lễ tùy nhu cầu thì dùng màu của ngày hôm đó hay màu của mùa hay màu tím, nếu có tính cách thống hối (x. nn. 31,33,38); các lễ tùy ý thì dùng màu thích hợp với lễ cử hành, hay màu của ngày hôm đó hoặc màu của mùa.

V. NHỮNG VẬT DỤNG KHÁC DÙNG TRONG THÁNH ÐƯỜNG

348. Ngoài các bình thánh và phẩm phục thánh, mà chất liệu đã được qui định, những vật dụng khác hoặc được dùng trong phụng vụ[cxxxix] [138] hoặc được đặt trong thánh đường, phải xứng đáng và đáp ứng với mục tiêu mà mỗi vật dụng nhắm tới.

349. Phải lưu tâm một cách đặc biệt đến các sách phụng vụ, nhất là sách Tin Mừng và sách Bài Ðọc, vì được dùng để công bố Lời Chúa và do đó đáng được tôn kính đặc biệt. Trong cử hành phụng vụ, chúng là dấu chỉ và biểu tượng của những thực tại siêu nhiên, nên phải xứng đáng, được trang hoàng và đẹp đẽ.

350. Trên hết, phải lưu tâm đến những gì có liên quan trực tiếp đến bàn thờ và cử hành Thánh Lễ, như thánh giá bàn thờ và thánh gia cầm khi rước kiệu.

351. Phải hết sức cố gắng để trong cả những vật dụng ít quan trọng, các đòi hỏi về nghệ thuật được bảo đảm, luôn phối hợp sự  đơn sơ trang nhã với nét thanh tú. 

Chương VII: VIỆC LỰA CHỌN THÁNH LỄ VÀ CÁC PHẦN THÁNH LỄ

I. VIỆC LỰA CHỌN THÁNH LỄ

II. VIỆC LỰA CHỌN CÁC PHẦN THÁNH LỄ

Các bài đọc

Các lời nguyện

Kinh Nguyện Thánh Thể

Các bài hát 

352. Hiệu quả mục vụ của Thánh Lễ sẽ gia tăng nhiều, nếu các bản văn bài đọc, lời nguyện và bài ca đáp ứng thoả đáng, hết sức có thể, với các nhu cầu và sự chuẩn bị tâm hồn, cũng như não trạng của những người tham dự. Ðó là điều có thể đạt được nếu biết sử dụng cách thích đáng quyền hạn rộng rãi trong việc lựa chọn được nói đến sau đây.

Vì thế, trong việc tổ chức Thánh Lễ, vị tư tế phải lưu ý đến lợi ích thiêng liêng chung của dân Chúa, hơn là sở thích riêng. Hơn nữa, khi chọn lựa các phần, ngài nên nhớ cần phải thựchiện với sự thuận ý của những người có giữ một phận vụ nào đó trong việc cử hành, kể cả giáo dân, trong những gì trực tiếp liên quan tới họ.

Vì có thể rộng rãi lựa chọn các phần Thánh Lễ, nên trước khi cử hành, thầy phó tế, các độc viên, người hát thánh vịnh, ca trưởng, người dẫn lễ, ca đoàn, mỗi người cần biết rõ bản văn liên quan đến phận vụ mình, và đừng để xảy ra tình trạng "gặp đâu hay đó". Các nghi thức được sắp xếp và diễn tiến cách hài hoà giúp ích nhiều cho tâm trí giáo dân tham dựThánh Lễ. 

I.  VIỆC LỰA CHỌN THÁNH LỄ

353. Về các lễ trọng, vị tư tế phải theo lịch của thánh đường nơi cử hành.

354. Về các Chúa Nhật, các ngày Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, các lễ kính và lễ nhớ buộc:

a. Nếu Thánh Lễ được cử hành có giáo dân tham dự, thì vị tư tế theo lịch của thánh đường nơi cử hành;

b. Nếu Thánh Lễ cử hành không có giáo dân, vị tư tế có thể chọn hoặc lịch của thánh đường hoặc lịch riêng.

355. Về các lễ nhớ tự do:

a. Trong các ngày Mùa Vọng từ 17 đến 24 tháng 12, các ngày Bát Nhật Giáng Sinh và các ngày Mùa Chay, trừ thứ Tư lễ Tro, và Tuần Thánh, phải dâng lễ theo ngày phụng vụ. Về lễnhớ có trong lịch chung rơi vào các ngày ấy, có thể đọc lời nguyện nhập lễ, ngoại trừ thứ Tư lễ Tro và các ngày Tuần Thánh. Trong các ngày trong tuần Mùa Phục Sinh, có thể cửhành toàn bộ lễ nhớ các Thánh.

b. Trong các ngày Mùa Vọng trước 17 tháng 12, các ngày mùa Giáng Sinh từ 2 tháng 1 và các ngày Mùa Phục Sinh, có thể chọn hoặc lễ theo ngày, hoặc lễ về vị Thánh, hay về một trong các vị Thánh được nhớ, hoặc lễ về một vị Thánh được ghi trong sổ bộ các Thánh vào ngày ấy.

c. Trong những ngày Mùa Quanh Năm, có thể chọn hoặc lễ theo ngày, hoặc lễ nhớ tự do nhằm vào ngày ấy, hoặc lễ về vị thánh được ghi trong sổ bộ các Thánh vào ngày ấy, hoặc lễcho các nhu cầu hay lễ ngoại lịch.

Nếu cử hành Thánh Lễ có giáo dân, vị tư tế phải chú ý đừng bỏ thường xuyên quá và không có lý do chính đáng các bài đọc của những ngày trong tuần, được chỉ định trong sách BàiÐọc, vì Hội Thánh muốn dọn cho giáo dân bàn tiệc Lời Chúa phong phú hơn.[cxl] [139]

Cùng vì lẽ ấy, chỉ nên cử hành lễ cầu cho những người qua đời cách chừng mực, vì bất cứ Thánh Lễ nào cũng được dâng cầu cho kẻ sống và người quá cố, và kinh Tạ Ơn luôn nhớđến các kẻ qua đời.

Nơi nào giáo dân thích cử hành lễ nhớ tự do kính Ðức Trinh Nữ Maria hay các Thánh, thì nên thoả mãn lòng đạo đức chính đáng của họ.

Khi được phép chọn giữa lễ nhớ ghi trong lịch chung và lễ nhớ trong lịch giáo phận hay dòng tu, thì nên chọn lễ nhớ riêng, nếu bậc lễ bằng nhau và truyền thống đã quen như vậy.

II. VIỆC LỰA CHỌN CÁC PHẦN THÁNH LỄ

356. Khi chọn các bản văn thuộc các phần khác nhau của Thánh Lễ, về Mùa hay về các Thánh, phải theo các qui tắc sau đây. 

Các bài đọc

357. Vào các ngày Chúa Nhật và lễ trọng có ba bài đọc trích từ các Ngôn Sứ, Tông Ðồ và Tin Mừng, nhờ đó dân kitô hữu được dạy dỗ về tính cách liên tục của công trình cứu rỗi, theo như ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Phải đọc đủ và đúng ba bài.

Các lễ kính có hai bài đọc. Tuy nhiên, nếu lễ kính được nâng lên đúng theo luật thành lễ trọng, thì thêm bài đọc thứ ba lấy từ phần Chung.

Trong các lễ nhớ các Thánh, nếu không có các bài đọc riêng, thì đọc các bài theo ngày. Trong vài trường hợp, có đề nghị các bài đọc thích hợp, nghĩa là đưa ra ánh sáng một khíacạnh đặc biệt của đời sống thiêng liêng hoặc hoạt động của vị Thánh. Việc sử dụng các bài đọc này không bắt buộc, ngoại trừ khi lý do mục vụ khuyên nên đọc.

358. Trong sách Các Bài Ðọc cho ngày, trong suốt năm ngày nào trong tuần cũng có bài đọc. Do đó, thường ngày nào hãy lấy bài đọc đã chỉ cho ngày ấy, trừ phi gặp lễ trọng hay lễ kính, hay lễ nhớ có bài đọc Tân Ước riêng, trong đó có nhắc đến vị Thánh được cử hành.

Tuy nhiên, khi nào việc đọc liên tục trong tuần bị ngắt quảng vì một lễ trọng, lễ kính hay một cử hành đặc biệt, vị tư tế được phép tùy theo cách xếp đặt các bài đọc trong cả tuần mànhập những phần bị bỏ với những phần khác hoặc quyết định xem nên đọc bài nào hơn.

Trong các Thánh Lễ cho những nhóm đặc biệt, vị tư tế được phép chọn những bài đọc đặc biệt thích hợp với cử hành hơn, miễn là lấy từ những bản văn trong sách Các Bài Ðọc được phê chuẩn.

359. Ngoài ra, có sự chọn lựa đặc biệt các bản văn Thánh Kinh trong sách Các Bài Ðọc cho các Thánh Lễ nghi thức, trong đó có cử hành các Bí Tích hay phụ tích, hoặc cho các Thánh Lễ được cử hành cho những nhu cầu nào đó.

Các sách Bài Ðọc ấy được tổ chức sao cho các tín hữu nhờ nghe Lời Chúa thích hợp, sẽ được hướng dẫn nhận biết đầy đủ hơn mầu nhiệm mà họ tham dự, và thúc đẩy họ yêu mến Lời Chúa nồng nàn hơn.

Do đó, các bản văn được đọc trong cử hành phải được xác định dựa theo lý do mục vụ và năng quyền được chọn trong vấn đề này.

360. Có trường hợp cùng một bản văn có hình thức dài và hình thức ngắn. Việc lựa chọn giữa hai hình thức này phải theo tiêu chuẩn mục vụ. Nên lưu ý đến khả năng của tín hữu nghe bài đọc dài hay bài đọc ngắn có kết quả hơn, đến khả năng của họ nghe bản văn được bổ túc nhờ bài giảng giải thích.

361. Khi có năng quyền chọn giữa một bản văn và bản văn khác được xác định rồi, hoặc bản văn khác còn để tự do, thì phải chú ý đến lợi ích của các người tham dự. Chọn bản văn đầu tiên, vì dễ hơn hay thích hợp hơn với cộng đoàn đang tập họp, hoặc chọn bản văn thay thế, được chỉ định cho một cử hành nào đó vì thích đáng hơn, hoặc bản văn thứ ba được để cho tự do, tùy theo lợi ích mục vụ khuyên nên theo chọn lựa nào.

Ðiều trên có thể xảy ra trong trường hợp cùng một bản văn được đề nghị đọc trong hai ngày gần nhau, chẳng hạn ngày Chúa Nhật và ngày tiếp theo, hoặc trường hợp có nỗi e ngại một bản văn nào đó có thể gây ra khó khăn trong một cộng đoàn tín hữu nào đó. Tuy nhiên, trong việc chọn lựa các bản văn Thánh Kinh, phải tránh loại bỏ thường xuyên một sốphần của Thánh kinh.

362. Ngoài năng quyền lựa chọn những bản văn thích hợp hơn như đã nói trên, các Hội Ðồng Giám Mục có năng quyền, trong những trường hợp đặc biệt, đưa ra những thích nghi liên quan đến các bài đọc, miễn là phải giữ luật chọn các bản văn trong sách Các Bài Ðọc được phê chuẫn đúng luật. 

Các lời nguyện

363. Trong bất cứ Thánh Lễ nào, nếu không ghi chú cách khác, chỉ được đọc các lời nguyện của lễ đó.

Trong các lễ nhớ các Thánh, vị tư tế đọc lời nguyện nhập lễ riêng hoặc, nếu không có, thì lấy trong phần Chung phù hợp. Các lời nguyện trên tiến lễ và hiệp lễ, nếu không có riêng, thì lấy trong phần Chung hoặc trong ngày theo Mùa lúc đó.

Trong những ngày trong Mùa Quanh Năm, ngoài những lời nguyện của Chúa Nhật liền trước, có thể lấy hoặc những lời nguyện của Chúa Nhật khác Mùa Quanh Năm, hoặc một trong những lời nguyện cho "các nhu cầu khác nhau", có ghi trong sách Lễ. Tuy nhiên, luôn luôn được phép chỉ lấy lời nguyện nhập lễ của các lễ ấy mà thôi.

Bằng cách trên, người ta có nhiều bản văn để nuôi dưỡng kinh nguyện của tín hữu cách phong phú hơn.

Tuy nhiên, trong những Mùa chính trong năm, đã có sự thích ứng này rồi nhờ các lời nguyện riêng của Mùa, có sẵn trong Sách Lễ cho mỗi ngày. 

Kinh Nguyện Thánh Thể

364. Sách Lễ Rôma có nhiều lời tiền tụng, giúp cho việc tạ ơn trong Kinh Nguyện Thánh Thể được biểu lộ bằng nhiều cách khác nhau và các ý nghĩa khác nhau của mầu nhiệm cứu độ được sáng tỏ hơn.

365. Việc lựa chọn Kinh Nguyện Thánh thể trong Lễ Qui phải theo những qui tắc sau đây:

a. Kinh Nguyện Thánh Thể I, hay còn gọi là Lễ Qui Rôma, là kinh có thể dùng lúc nào cũng được, nhưng thích hợp hơn hết trong những ngày có kinh "Cùng hiệp thông" riêng, hoặc trong những Thánh Lễ có kinh "Vậy, lạy Cha, đây là lễ vật" riêng, cũng như trong các lễ kính các Tông Ðồ và các Thánh mà tên được nêu trong Kinh Nguyện Thánh Thể này, và trong các ngày Chúa Nhật, nếu không vì lý do mục vụ mà nên chọn Kinh nguyện Thánh Thể III.

b. Kinh Nguyện Thánh Thể II, vì những đặc điểm riêng của nó, nên được dùng trong các ngày trong tuần, hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt. Mặc dù có lời tiền tụng riêng, nhưng cũng có thể đọc với những lời tiền tụng khác, nhất là với những lời tiền tụng nhắc lại vắn tắt mầu nhiệm cứu độ, ví dụ với những lời tiền tụng chung. Khi cử hành Thánh Lễ cầu chongười quá cố, có thể dùng công thức riêng được trù liệu ở chỗ trước kinh "Lạy Cha, xin nhớ  đến".

c. Kinh Nguyện Thánh Thể III có thể được đọc với bất cứ lời tiền tụng nào. Nên dùng vào các Chúa Nhật và lễ kính. Nếu đọc Kinh Nguyện này trong các lễ cầu cho người quá cố, có thể dùng công thức riêng cho người quá cố, vào đúng chỗ của nó, nghĩa là sau những lời: "Còn những con cái Cha đang tản mác bốn phương trời.".

d. Kinh Nguyện IV có lời tiền tụng không thay đổi và trình bày đầy đủ hơn bản tóm lược lịch sử cứu độ. Có thể dùng Kinh Nguyện này khi Thánh Lễ không có lời tiền tụng riêng, và trong các Chúa Nhật "Quanh Năm". Trong Kinh Nguyện này, do cấu trúc của nó, không thể xen vào công thức riêng cầu cho người quá cố. 

Các bài hát

366. Những bài hát nằm trong Lễ Qui, ví dụ "Lạy Chiên Thiên Chúa", thì không được thay thế bằng những bài hát khác.

367. Khi chọn bài hát nằm giữa các bài đọc, và những bài hát lúc nhập lễ, dâng lễ phẩm, và hiệp lễ, thì phải giữ những qui tắc ấn định cho các phần đó (x. nn. 4041, 4748, 6164, 74, 8788).  

Chương VIII: CÁC THÁNH LỄ VÀ CÁC LỜI NGUYỆN TÙY NHU CẦU

VÀ CÁC THÁNH LỄ CẦU CHO NGƯỜI QUA ÐỜI 

I. CÁC THÁNH LỄ VÀ LỜI NGUYỆN TUỲ NHU CẦU

II. CÁC THÁNH LỄ CẦU CHO NGƯỜI QUA ÐỜI

I. CÁC THÁNH LỄ VÀ LỜI NGUYỆN TÙY NHU CẦU 

368. Vì phụng vụ các bí tích và phụ tích nhằm thánh hoá nơi các tín hữu được chuẩn bị tốt mọi biến cố trong đời sống nhờ ơn thánh phát xuất từ mầu nhiệm Phục Sinh,[cxli] [140]và vì Thánh Lễ là bí tích cao trọng nhất, nên Sách Lễ đã trù liệu nhiều mẫu lễ và lời nguyện, có thể được dùng trong các dịp khác nhau của cuộc sống kitô hữu, để cầu nguyện cho các nhu cầu của toàn thế giới hoặc của Hội Thánh toàn cầu hay địa phương.

369. Do việc có năng quyền chọn lựa rộng rãi hơn các bài đọc và các lời nguyện, nên chỉ dùng những Thánh Lễ tuỳ nhu cầu cách chừng mực , nghĩa là chỉ dùng khi thực sự có nhu cầu đó.

370. Trong mọi Thánh Lễ tuỳ nhu cầu, trừ phi được dự liệu rõ ràng cách khác, được phép dùng các bài đọc của ngày, và các bài ca nằm giữa các bài đọc, nếu chúng phù hợp với cửhành.

371. Ðược kể vào số các Thánh Lễ loại này: các Thánh Lễ nghi thức, Thánh Lễ cho các nhu cầu khác nhau và Thánh Lễ ngoại lịch.

372. Các Thánh Lễ nghi thức đi liền với việc cử hành các bí tích và phụ tích. Cấm cử hành các Thánh Lễ này trong các Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, các lễ trọng, lễ các ngày trong Bát Nhật Phục Sinh, lễ cầu cho các tín hữu qua đời, lễ thứ Tư Tro và Tuần Thánh. Ngoài ra phải giữ các qui tắc được trình bày trong các sách nghi thức hay trong chính các Thánh Lễ loại này.

373. Các lễ cho các nhu cầu được dùng khi có những dịp đó xảy ra, thỉnh thoảng hay vào những thời kỳ nhất định. Giới chức có thẩm quyền có thể chọn trong số các lễ này các lễkhẩn nguyện, được Hội Ðồng Giám Mục ấn định phải cử hành trong năm.

374. Khi xảy ra một nhu cầu nghiêm trọng hay vì lợi ích mục vụ, Giám Mục giáo phận có thể ra lệnh hay cho phép cử hành Thánh Lễ phù hợp vào bất cứ ngày nào, ngoại trừ các lễtrọng, Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh, lễ nhớ mọi tín hữu đã qua đời và thứ Tư Tro, Tuần Thánh.

375. Các Thánh Lễ ngoại lịch về các mầu nhiệm của Chúa hoặc để tôn kính Ðức Trinh Nữ Maria, hay các Thiên Thần hay một vị Thánh nào hay toàn thể các Thánh có thể được cửhành theo lòng đạo đức của tín hữu, vào các ngày Mùa Quanh Năm, kể cả khi có lễ nhớ tự do. Tuy nhiên, không được cử hành, như là lễ ngoại lịch, các lễ liên quan đến các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa hay cuộc đời Ðức Trinh Nữ Maria, trừ lễ Ðức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội, vì việc cử hành các mầu nhiệm này đi liền với diễn tiến năm phụng vụ.

376. Trong các ngày có lễ nhớ bắt buộc hay các ngày Mùa Vọng cho đến 16 tháng 12, Mùa Giáng Sinh từ 2 tháng giêng, và Mùa Phục Sinh sau Bát Nhật Phục Sinh, thì cấm các lễcho các nhu cầu khác nhau và lễ ngoại lịch. Tuy nhiên, nếu có nhu cầu thực sự và lợi ích mục vụ đòi hỏi, thì trong cử hành với giáo dân có thể dùng lễ đáp ứng với nhu cầu hay lợi ích ấy, tuỳ theo sự phán đoán của vị giám quản thánh đường hay của chính vị chủ tế.

377. Trong các ngày thuộc Mùa Quanh Năm có lễ nhớ tự do hay lễ về ngày trong tuần, được phép cử hành bất cứ lễ cho nhu cầu nào hay dùng bất cứ lời nguyện cho nhu cầu nào, ngoại trừ các lễ nghi thức.

378. Cách đặc biệt, khuyên nên cử hành lễ nhớ Ðức Maria vào ngày thứ bảy, vì Phụng Vụ Hội Thánh tôn kính Mẹ Ðấng Cứu Thế trước và trên tất cả các Thánh.[cxlii] [141]

II.  CÁC THÁNH LỄ CẦU CHO NGƯỜI QUA ÐỜI

379. Hội Thánh dâng hy lễ tạ  ơn Vượt Qua của Chúa Kitô cầu cho những người qua đời, để, nhờ sự hiệp thông giữa mọi chi thể của Chúa Kitô, người thì nhận được ơn ích thiêng liêng, người thì có được niềm an ủi cậy trông.

380. Trong các Thánh Lễ cầu cho người qua đời, đứng hàng đầu là lễ an táng, được cử hành bất cứ ngày nào, trừ ngày lễ trọng buộc, thứ Năm Tuần Thánh, Tam Nhật Vượt Qua và các Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, ngoài ra phải giữ tất cả những gì luật buộc phải giữ.[cxliii] [142]

381. Thánh lễ cầu cho người qua đời sau khi được tin báo tử, hay lúc mai táng, hay ngày giỗ đầu, có thể được cử hành cả trong những ngày sau Bát Nhật Giáng Sinh, các ngày có lễnhớ buộc hoặc những ngày trong tuần không phải thứ Tư Tro hoặc Tuần Thánh.

Những lễ cầu cho người qua đời khác, còn gọi là "các lễ hằng ngày", có thể được cử hành trong các ngày trong tuần Mùa Thường Niên, mà trong những ngày này chỉ có lễ nhớ tự do hoặc lễ trong tuần, miễn là thực sự chỉ lễ cho người qua đời.

382. Trong lễ an táng thường nên có bài giảng ngắn, nhưng phải tránh mọi loại điếu văn ca tụng.

383. Khuyến khích các tín hữu, nhất là gia đình người quá cố, tham dự hy lễ Thánh Thể dâng cho người quá cố, kể cả rước lễ.

384. Nếu Thánh Lễ an táng có kèm theo nghi thức an táng, thì sau khi đọc lời nguyện hiệp lễ, bỏ nghi thức kết thúc, làm nghi thức phó dâng cuối cùng, là nghi thức chỉ được cửhành khi có thi hài.

385. Trong việc sắp xếp và chọn lựa các phần của Thánh Lễ cầu cho người quá cố, nhất là lễ an táng, là những phần có thể thay đổi (ví dụ: các lời nguyện, bài đọc, lời nguyện cho mọi người), phải có trước mắt các lý do mục vụ liên quan đến người chết, gia đình và những người hiện diện. Ngoài ra, các mục tử cũng cần đặc biệt lưu ý đến những người nhân dịp lễ an táng có mặt trong các cử hành phụng vụ hay nghe Tin Mừng, dù họ không phải là người công giáo hay là người công giáo không bao giờ hay hầu như không bao giờ tham dựThánh Lễ, hay xem ra đã mất đức tin. Thật vậy, các vị tư tế là thừa tác viên Tin Mừng Chúa Kitô cho mọi người. 

Chương IX: CÁC THÍCH NGHI THUỘC QUYỀN GIÁM MỤC VÀ HỘI ÐỒNG GIÁM MỤC

386. Việc soạn thảo Sách Lễ Rôma, được thực hiện vào thời đại chúng ta theo qui tắc của các sắc lệnh của Công Ðồng Chung Vaticanô II, luôn lưu tâm làm sao cho mọi tín hữu, trong cử hành Thánh Lễ, có thể tham dự cách đầy đủ, ý thức và linh hoạt, như bản chất Phụng Vụ đòi hỏi, và như các tín hữu, do thân phận mình, có quyền và có bổn phận yêu cầu.[cxliv] [143]

Tuy nhiên, để cho việc cử hành đáp ứng các qui tắc và tinh thần của Phụng Vụ Thánh, Qui Chế Tổng Quát này và Lễ Qui đưa ra vài thích ứng và thích nghi, được giao cho sự phán đoán của Giám Mục giáo phận hay Hội Ðồng Giám Mục.

387. Giáo Mục giáo phận, với tư cách là đại tư tế của đoàn chiên mình, từ ngài xuất phát và tuỳ thuộc một cách nào đó sự sống của các tín hữu mình trong Chúa Kitô,[cxlv] [144]có nhiệm vụ cổ võ, điều phối và canh phòng đời sống phụng vụ trong giáo phận mình. Trong Qui Chế Tổng Quát này, ngài được giao cho việc điều phối kỷ luật về đồng tế (x. n. 202), ban hành các qui tắc về phận vụ trợ giúp vị tư tế nơi bàn thờ (x. n. 107), về việc phân phát rước lễ dưới hai hình (x. n. 284), về việc xây dựng và bố trí thánh đường (x. n. 291294). Nhưng trên hết ngài có bổn phận phát triển tinh thần phụng vụ thánh nơi các linh mục, phó tế và giáo dân.

388. Các thích nghi, được nói đến sau đây, cần được xác định với sự điều hợp rộng lớn bên trong Hội Ðồng Giám Mục, chiếu theo luật.

389. Trước hết, các Hội Ðồng Giám Mục có thẩm quyền cho soạn thảo và phê chuẩn bản dịch Sách Lễ Rôma trong tiếng địa phương để được dùng trong lãnh thổ mình, sau khi được Toà Thánh công nhận.

Sách Lễ Rôma phải được phát hành toàn bộ trong bản latinh hay trong bản dịch địa phương được phê chuẩn cách hợp pháp.

390. Các Hội Ðồng Giám Mục qui định các thích nghi và, sau khi được Toà Thánh công nhận, được đưa vào Sách Lễ. Việc thích nghi được làm trong những điều được cho phép trong Quy Chế Tổng Quát này và trong Lễ Qui Rôma, tức là: 

Cử chỉ và điệu bộ thân thể của các tín hữu (xem trên, nn. 24, 43); 

Cử chỉ tôn kính đối với bàn thờ và sách Tin Mừng (xem trên, n. 273); 

Các bản văn bài ca nhập lễ, chuẩn bị lễ phẩm và hiệp lễ (xem trên, nn. 48, 74, 87);  

Các bài đọc lấy từ Thánh Kinh trong những dịp đặc biệt (xem trên, n. 362); 

Hình thức trao bình an (xem trên, n. 82);  

Cách thức rước lễ (xem trên, nn. 160161, 284); 

Chất liệu chế tạo bàn thờ và các vật dụng thánh, nhất là các bình thánh, và chất liệu, hình thức và màu sắc các phẩm phục phụng vụ (xem trên, nn. 301, 329, 332, 342, 345346, 349).

Các Hướng Dẫn và Huấn Thị mục vụ, mà Hội Ðồng Giám Mục xét là cần thiết, có thể được đưa vào Sách Lễ Rôma, ở chỗ thích hợp, sau khi được Toà Thánh công nhận.

391. Các Hội Ðồng Giám Mục phải lo sao cho bản dịch các bản văn Thánh Kinh dùng trong cử hành Thánh Lễ, được thực hiện với sự cẩn thận đặc biệt. Thật vậy, người ta trích từThánh Kinh các bài để  đọc và để dẫn giải trong bài giảng, cũng như những thánh vịnh để hát. Cũng nhờ gợi hứng từ Thánh Kinh mà xuất phát các kinh, lời nguyện, công thức phụng vụ, đồng thời những động tác và các biểu hiệu cũng nhận lấy ý nghĩa từ Thánh kinh.[cxlvi] [145]

Nên dùng lối văn đáp ứng với sự nhận thức của tín hữu và thích hợp để  được công bố, tuy nhiên phải giữ những đặc tính của những kiểu nói khác nhau được dùng trong các sách Thánh Kinh.

392. Các Hội Ðồng Giám mục cũng cẩn thận thực hiện việc dịch các bản văn khác, để, tuy vẫn giữ được bản chất của ngôn ngữ mình, ý nghĩa của bản văn bằng tiếng latinh được chuyển đạt cách đầy đủ và trung thành. Khi thực hiện việc này, phải chú ý đến các văn thể khác nhau được dùng trong Thánh Lễ, như lời nguyện của chủ tế, tiền xướng, tung hô, đáp ca, khẩn nài kiểu kinh cầu, vv...

Hãy luôn nhớ dịch các bản văn trước hết không phải để suy gẫm, nhưng để công bố hay hát trong hành vi phụng vụ.

Nên dùng lời văn thích hợp với các tín hữu trong vùng, tuy nhiên cũng phải có phẩm chất thanh cao và văn chương. Luôn luôn cần thiết phải giảng dạy về ý nghĩa Thánh Kinh và kitô giáo của vài từ và câu.

Trong những vùng sử dụng cùng một ngôn ngữ, nên đưa ra cùng một bản dịch, trong mức độ hết sức có thể, cho các bản văn phụng vụ, nhất là các bản văn Thánh Kinh và Lễ Qui.[cxlvii] [146]

393. Phải chú ý đến vai trò cao cả của hát ca trong cử hành, như là thành phần cần thiết hay trọn vẹn của phụng vụ.[cxlviii] [147] Các Hội Ðồng Giám Mục có quyền phê chuẩn những giai điệu thích hợp, nhất là cho các bản văn phần Thường Lễ, cho các lời đáp và tung hô của giáo dân, và cho các nghi thức đặc biệt xảy ra trong năm phụng vụ.

Các Hội Ðồng Giám Mục cũng xét xem nên chấp nhận hình thức âm nhạc, giai điệu, nhạc cụ nào trong việc thờ phượng thánh, vì chúng thích hợp hay có thể thích hợp với việc sửdụng thánh.

394. Mỗi giáo phận nên có lịch của mình và phần riêng các Lễ.[cxlix] [148] Về phần mình, Hội Ðồng Giám Mục nên làm một lịch riêng, hay cùng với những Hội Ðồng Giám Mục khác, đưa ra một lịch có thẩm quyền lớn hơn, sau khi được Toà Thánh chấp thuận.

Khi làm việc này, phải duy trì hết sức ngày Chúa Nhật sao cho các lễ kính, và các cử hành khác không được lấn át ngày Chúa Nhật, trừ phi thật sự là rất quan trọng.[cl] [149] Cũng lo sao đừng để năm phụng vụ được công nhận bởi sắc lệnh của Công Ðồng Vaticanô II bị che khuất bởi các yếu tố thứ yếu.

Khi làm lịch quốc gia, phải ghi các ngày Cầu Khẩn và Bốn Mùa, và có trước mắt hình thức và bản văn để cử hành những ngày này[cli] [150] và những đặc điễm riêng khác.

Khi phát hành Sách Lễ, nên đưa những cử hành riêng cho toàn thể quốc gia hay lãnh thổ lớn hơn vào chỗ những cử hành của lịch chung, còn những cử hành riêng cho vùng hay giáo phận thì để vào phần Phụ Lục đặc biệt.

395. Sau cùng, nếu sự tham dự của các tín hữu và lợi ích thiêng liêng của họ  đòi hỏi có những thay đổi và thích nghi sâu rộng hơn, hầu cử hành thánh đáp ứng với não trạng và truyền thống của các dân tộc khác nhau, các Hội Ðồng Giám Mục có thể đề nghị chúng lên Toà Thánh, theo đúng qui tắc của số 40 Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, để sau khi được Toà Thánh chấp thuận, thì đưa vào, nhất là đối với các dân tộc vừa mới được rao giảng Tin Mừng.[clii] [151] Nên cẩn thận tuân giữ những qui tắc đặc biệt được đưa ra trong Huấn Thị"Phụng Vụ Rôma và hội nhập văn hoá".[cliii] [152]

Về cách tiến hành trong vấn đề này, nên giữ các điều sau đây:

Trước hết, đề nghị dự kiến phải được trình bày chi tiết cho Toà Thánh, để, sau khi được năng quyền phải có, có thể tiến hành soạn thảo các thích nghi.

Sau khi các đề nghi này được Toà Thánh chấp thuận đúng thủ tục, thì thực hiện các thí nghiệm trong thời gian và nơi chốn qui định. Nếu, thời gian thí nghiệm đã mãn, Hội Ðồng Giám Mục quyết định theo đuổi các thích nghi ấy, thì đệ trình hình thức chín mùi của sự việc lên Toà thánh cứu xét.[cliv] [153]

396. Tuy nhiên, trước khi thi hành những thích nghi mới, nhất là sâu rộng hơn, phải lo liệu hết sức cho các giáo sĩ và giáo dân được huấn luyện tử tế và việc này phải tiến hành cách khôn ngoan và trong trật tự, cho các năng quyền đã dự kiến mang lại hiệu quả, và các qui tắc mục vụ, đáp ứng với việc cử hành thiêng liêng, được áp dụng đầy đủ.

397. Do đó, phải giữ nguyên tắc theo đó bất cứ một Giáo Hội địa phương nào phải đồng tâm nhất trí với Giáo Hội toàn cầu không những về giáo lý đức tin và các dấu chỉ bí tích, mà còn về các thói tục đã được chấp thuận phổ quát từ thời các Tông Ðồ và được lưu truyền liên tục; chúng đã được duy trì chẳng những để tránh các sai lầm, mà còn để chuyển giao đức tin toàn vẹn, vì luật cầu nguyện của Hội Thánh đáp ứng với luật đức tin.[clv] [154]

Nghi Lễ Rôma tạo thành phần thanh cao của kho tàng phụng vụ và gia sản của Hội Thánh Công Giáo, mà sự phong phú giúp ích cho Hội Thánh toàn cầu, cho nên nếu thiếu sẽ gây hại nghiêm trọng.

Nghi Lễ này theo dòng các thế kỷ không những đã phục vụ cho các thực hành phụng vụ xuất phát từ thành Rôma, mà còn du nhập cách sâu xa, có tổ chức và hòa hợp các thực hành phụng vụ khác, phát sinh từ những tập tục và năng khiếu của các dân tộc khác nhau và của các Hội Thánh riêng đa dạng ở Tây phương cũng như Ðông phương, và như vậy đạt được một tính cách siêu vượt giới vùng. Trong thời đại chúng ta, căn tính và cách diễn tả thống nhất của Nghi Lễ này được gặp thấy trong các bản mẫu của các sách phụng vụ được ban bố do quyền của Ðức Giáo Hoàng và trong các sách phụng vụ tương ứng được các Hội Ðồng Giám Mục chấp thuận cho lãnh thổ mình và được Toà Thánh nhìn nhận.[clvi] [155]

398. Qui tắc do Công Ðồng Vaticanô II đưa ra, theo đó không được làm các đổi mới trong cải tổ phụng vụ nếu lợi ích thật sự và chắc chắn của Hội Thánh không đòi hỏi như thế, và phải cẩn trọng để cho những hình thái mới được triển nở, một cách nào đó, có hệ thống từ những hình thái sẵn có,[clvii] [156] qui tắc đó cũng phải được áp dụng cho chính việc hội nhập văn hoá của Nghi Lễ Rôma.[clviii] [157] Ngoài ra, việc hội nhập văn hoá đòi hỏi phải có nhiều thời gian, để truyền thống phụng vụ đích thực không bị làm tổn hại cách vội vả và bất cẩn.

Hơn nữa, yêu cầu hội nhập văn hoá không hề nhắm đến việc tạo ra những gia đình nghi lễ mới, nhưng khảo sát những đòi hỏi của nền văn hoá đó để các thích nghi được đưa vào Sách Lễ hay trong các sách phụng vụ khác ăn khớp, chứ không phải làm hại đặc tính của Nghi Lễ Rôma.[clix] [158]

399. Vì thế, Sách Lễ Rôma, dù được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và trong sự đa dạng các tập tục,[clx] [159] vẫn phải được dùng như khí cụ và dấu chỉ sáng ngời của sự toàn vẹn và thống nhất của Nghi Lễ Rôma.[clxi] [160] 

Nguồn: gpcantho.com